Mua bán phát thải khí nhà kính - một thị trường mới mẻ của thế kỷ 21
I. Sự hình thành thị trường mua bán lượng phát thải khí nhà kính
1. Biến đổi khí hậu là “Chủ nghĩa khủng bố chiến lược và toàn cầu” của thế kỷ 21
Trái đất được bao bọc bởi bầu khí quyển với các khí nhà kính có nguồn gốc tự nhiên như CO 2, CH 4, và N 2O. Khí nhà kính giữ cho trái đất ở nhiệt độ đủ ấm và có ý nghĩa sống còn đối với mọi sự sống trên trái đất.
Trong quá trình phát triển công nghiệp mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là từ những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, bằng các hoạt động như đốt nhiên liệu hóa thạch, khai thác mỏ, khai phá rừng, chuyển đổi sử dụng đất, sản xuất lương thực, chăn nuôi, xử lý chất thải... đã làm tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển. Điều đó dẫn đến gia tăng hiệu ứng nhà kính, làm nhiệt độ trái đất tăng nhanh với tốc độ chưa từng có trong quá khứ. Đó là hiện tượng nóng lên toàn cầu, làm biến đổi khí hậu trái đất, tác động lớn đến môi trường sinh thái, gây nhiều tác hại khôn lường cho con người. Người ta gọi sự biến đổi khí hậu là “Chủ nghĩa khủng bố chiến lược và toàn cầu” của thế kỷ 21.
2. UNFCCC là gì?
Biến đổi khí hậu gây nhiều tác hại:
- Nước triều dâng làm vùng ven biển thấp, rừng ngập mặn, nhiều quốc đảo sẽ bị ngập, thậm chí bị xóa tên trên bản đồ thế giới;
- Làm biến đổi dòng chảy của các sông ngòi, phá vỡ nhiều công trình trên các dòng sông đó;
- Ảnh hưởng tới mùa màng, lụt lội kèm theo hạn hán cục bộ, làm thay đổi hệ sinh thái rừng, làm tăng nguy cơ diệt chủng một số động, thực vật quý hiếm.
- Ảnh hưởng tới sức khỏe con người, tăng dịch bệnh;
- Đe dọa các công trình hạ tầng, hệ thống giao thông và các khu dân cư vùng ven biển.
Trước những hiểm họa và thách thức lớn đối với toàn nhân loại, Liên hợp quốc đã tập hợp nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên thế giới bàn bạc và đi đến nhất trí cần có một Công ước Quốc tế về khí hậu và coi đó là cơ sở pháp lý để cộng đồng thế giới đối phó với những diễn biến tiêu cực của biến đổi khí hậu.
Công ước khung của Liên hợp quốc về biển đổi khí hậu đã được chấp nhận vào ngày 9/5/1992 tại trụ sở của Liên hợp quốc ở New York .
Đã có 155 lãnh đạo Nhà nước trên thế giới ký Công nước này tại Hội nghị Môi trường và phát triển ở Rio de Janeiro (Braxin) vào tháng 6/1992, trong đó có Chính phủ Việt Nam.
Vậy UNFCCC là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh, được dịch ra tiếng Việt là Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu. Mục tiêu cuối cùng của UNFCCC là ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự tác động tiêu cực của con người đối với hệ thống khí hậu. Các nước trên thế giới được UNFCCC phân chia thành 2 nhóm nước:
Nhóm 1: gọi là Bên thuộc phụ lục 1 gồm các nước phát triển, các nước này có lượng phát thải khí nhà kính rất lớn.
Nhóm 2: là Bên không thuộc phụ lục 1, trong đó có Việt Nam , gồm các nước đang phát triển, có lượng phát thải khí nhà kính nhỏ.
3. Nghị định thư Kyoto (KP) là gì?
Tại Kyoto Nhật Bản đã diễn ra Hội nghị các bên lần thứ 3 vào tháng 12/1997. Tại Hội nghị này đã thông qua một văn bản gọi là Nghị định thư Kyoto (KP). KP đưa ra cam kết đối với các nước phát triển về giảm lượng phát thải các khí nhà kính phải thấp hơn mức phát thải của năm 1990.
Cụ thể là: Trong thời kỳ cam kết từ 2003 – 2012 phải giảm trung bình là 5,2% (ước 2.800 – 4.800 triệu tấn CO 2tương đương). Trong đó EU là 8%, Hoa Kỳ 7%, Nhật Bản 6%.
Hiện nay đã có 120 nước phê chuẩn KP. Nhưng Nghị định KP sẽ chỉ có hiệu lực nếu Liên bang Nga phê chuẩn.
KP đưa ra 3 cơ chế mềm dẻo cho các nước phát triển thực hiện cam kết đó là:
- Cơ chế đồng thực hiện (JI);
- Cơ chế buôn bán quyền phát thải (ET);
- Cơ chế phát triển sạch (CDM).
4. Cơ chế phát triển sạch (CDM) là gì?
CDM (Clean Development Mechanism) là một cơ chế đối tác đầu tư giữa các nước phát triển và nước đang phát triển.
CDM cho phép và khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của các nước phát triển đầu tư, thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển và nhận được tín dụng dưới dạng “Giảm phát thải được chứng nhận (CERs)”. Khoản tín dụng này được tính vào chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính của các nước phát triển, giúp các nước này thực hiện cam kết giảm phát thải định lượng khí nhà kính.
Các nước có lượng phát thải lớn tại Hội nghị Kyoto đã bắt buộc phải giảm lượng phát thải của mình bằng lượng phát thải năm 1990. Để thực hiện được quy định này, thế giới đã hình thành một thị trường mua bán lượng phát thải khí nhà kính. Người mua là các nước phát triển, người bán là các nước đang phát triển. Nếu các nước phát triển đầu tư cho các nước đang phát triển để thực hiện dự án CDM thì các nước phát triển sẽ nhận được một tín dụng để trừ vào chỉ tiêu giảm phát thải bắt buộc ở nước mình.
II. Đặc điểm và điều kiện tham gia vào thị trường mua bán phát thải nhà kính
Thị trường mua bán phát thải khí nhà kính là một thị trường mới mẻ chưa từng có trong lịch sử phát triển kinh tế từ trước tới nay, do đó chưa có được những quy định chặt chẽ và rõ ràng trong cơ chế này. Tuy nhiên đã là mua và bán nên phải có “cân, đong, đo, đếm” rõ ràng. Ngoài việc các bên tham gia thực hiện dự án phải giám sát “cân đo” chặt chẽ, quốc tế còn quy định phải có một tổ chức quốc tế đại diện cho các nước tham gia để công nhận và cấp chứng chỉ, chứng nhận. Hiện nay giá cả chưa hoàn toàn thống nhất, bộ phận nghiên cứu đang đề xuất từ 2 – 10 USD/tấn phát thải CO 2phụ thuộc theo từng dự án.
Để thực hiện được cam kết của các nước phát triển và giảm tổng lượng phát thải các khí nhà kính, Hội nghị Kyoto đã đưa ra 3 cơ chế, trong đó khuyến khích thực hiện cơ chế phát triển sạch (CDM).
Muốn tham gia thực hiện được dự án CDM thì các nước phải đáp ứng được 3 yêu cầu sau:
- Tự nguyện tham gia CDM;
- Chỉ định cơ quan quốc gia về CDM;
- Phê chuẩn Nghị định thư Kyoto .
Ba yêu cầu trên Việt Nam đã đáp ứng được, có nghĩa là có đủ điều kiện để tham gia các dự án này.
- Chutrình thực hiện 1 dự án CDM quốc tế gồm 7 giai đoạn theo sơ đồ (Hình 1).
- Giai đoạn chuẩn bị dự án bao gồm việc thiết kế dự án, thực hiện theo hướng dẫn và được phê duyệt, sau đó đăng ký với tổ chức quốc tế và được các nhà đầu tư cung cấp tài chính cho dự án.
- Giai đoạn thực thi dự án được các bên tham gia dự án thực hiện, được tổ chức quốc tế thẩm tra và cấp chứng chỉ giảm phát thải CERs.
Cách thức xây dựng, thẩm định, phê duyệt đều có các tiêu chí, tiêu chuẩn quy định chặt chẽ.
- Khi thực hiện dự án CDM trong việc thực hiện thị trường mua bán giảm phát thải, phía mua và phía bán đều có lợi. Có thể tóm tắt lợi ích đó như sau:
1. Bên bán: nếu thực hiện thành công dự án sẽ:
- Thu hút được khoản vốn đầu tư từ các nước phát triển;
- Tiếp nhận được công nghệ mới theo hướng bền vững;
- Góp phần bảo vệ môi trường quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ công ăn việc làm.
2. Bên mua: sẽ nhận được một chứng chỉ CERs cho nước họ do kết quả giảm phát thải tại nước bán với chi phí thấp hơn thực hiện ở nước mua.
III. Thị trường mua bán giảm phát thải nhà kính ở Việt Nam
1. Trước hết Việt Nam là một nước có tiềm năng để thực hiện việc giảm phát thải. Hiện tại Việt Namkhông được xếp vào Phụ lục I của Công ước, nghĩa là ở Việt Nam , việc phát thải chung vào thế giới còn quá nhỏ bé. Như thế cũng có nghĩa là Việt Nam rất thuận lợi để các nước phát triển đầu tư các dự án phát triển kinh tế, đặc biệt là các dự án CDM để họ có thể nhận được một chứng chỉ.
2. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, đã nhanh chóng tham gia cam kết với các tổ chức quốc tế, như đã ký kết Công ước khung, Nghị định thư Kyoto, đã chỉ định cơ quan đầu mối quốc gia... tức là đủ điều kiện theo quy định của tổ chức quốc tế để thực hiện các dự án CDM.
3. Đã có nhiều ngành bước đầu nghiên cứu và xây dựng các dự án tiềm năng về CDM trong các lĩnh vực:
- Bảo tồn và tiết kiệm năng lượng;
- Chuyển đổi sử dụng nhiên liệu hóa thạch;
- Thu hồi và sử dụng CH4, từ bãi rác và khai thác than;
- Ứng dụng năng lượng tái tạo;
- Trồng mới rừng cây và tái trồng rừng;
- Thu hồi và sử dụng khí đốt đồng hành.
Trong đó có những ý tưởng dự án đã được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và chuẩn bị thủ tục để thực hiện. Tuy nhiên, do thị trường này còn mới mẻ, nhiều cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp còn biết quá ít lượng thông tin về thị trường này, do đó mặc dù tiềm năng thị trường Việt Nam là rất rộng rãi nhưng chưa có nhiều doanh nghiệp xây dựng và đăng ký dự án cho đơn vị mình.
Chúng tôi thấy đã đến lúc Nhà nước cần phổ biến rộng rãi hơn, cung cấp nhiều thông tin hơn cho các doanh nghiệp để họ có thể cân nhắc tham gia vào thị trường. Riêng tác giả bài viết này sẵn sàng chia sẻ những thông tin chi tiết cùng các đơn vị quan tâm và cũng sẵn sàng tổ chức để các doanh nghiệp tiếp cận với các cơ quan đầu mối quốc gia của Việt Nam và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực này.








