Một sự kiện sinh học chấn động cuối thế kỷ XX: Phát hiện loài thú lớn mới - Sao La
Buổi chiều ngày 21-5, chúng tôi (Dũng, Tước, Sáng và Tự), khi đi thu thập thông tin của dân địa phương, đã phát hiện trong gia đình một người thợ săn trẻ thuộc xã Kim Quang, gần Đồn Biên phòng 576, một cặp sừng lạ có chiều dài và hình dạng khác hẳn sừng của loài dê rừng (Naemarhedus sumatraensis ). Để phân biệt hai loài thú này, người địa phương gọi loài có kích thước lớn, sừng dài thẳng; lông màu nâu đen là dê rừng. Ngày 22-5 khi chuyển ra Màn Trạm, nhóm chúng tôi thu thêm 2 cặp sừng khác của loài thú lạ nói trên.
Với 3 mẫu sừng thu được, nhóm khẳng định, đây là loài thú mới thuộc họ Bò- Bovidae và đặt tên Việt Nam là dê sừng dài để tránh nhầm lẫn với loài dê rừng hoặc loài sơn dương (theo tên gọi của địa phương) khá phổ biến ở các vùng núi đá của Việt Nam. Ts.John MacKinnon đề nghị lên tiếng Anh của loài thú lạ này “Vu Quang Ox”. Phát hiện trên được báo cáo với Bộ Lâm nghiệp và văn phòng WWF ở Hà Nội.Bản tin của WWF đóng tại Giand Thuỵ Sĩ ngày 17- 7- 1992 đã chính thức thông báo việc phát hiện loài thú mới tại khu BTTN Vũ Quang. Tiếp theo, rất nhiều các hãng thông tấn lớn và các báo cáo của nhiều nước đã đưa tin về phát hiện này. Sau khi thu được mẫu loài bò xám (Bos sauveli ) năm 1937 tại Nam Đông Dương ( Campuchia và Nam Việt Nam), các nhà khoa học nghĩ rằng đây là loài thú lớn cuối cùng được tìm thấy trên trái đất . Không ngờ sau hơn nửa thế kỷ, các nhà khoa học vẫn còn phát hiện được một loài thú lớn khác ở vùng phía bắc dãy Trường Sơn.
Để thu thập thêm thông tin và mẫu vật của loài thú mới, WWF ở Hà Nội lại tiếp tục tài trợ cho cuộc khảo sát thứ hai tại khu vực Vũ Quang, thuộc hai huyện Hương Khê và Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, từ ngày 12 đến ngày 25-11-1992. Nhóm khảo sát gồm 3 cán bộ: Vũ Văn Dũng, Hoàng Trọng Trí (viện ĐTQHR) và Phạm Mộng Giao (Cục Kiểm lâm).Trong khoảng 2 tuần khảo sát, nhóm đã thống kê được hơn 20 cặp sừng và đặc biệt thu được một bộ da đầy đủ của loài dê sừng dài tại xã Hoà Hải, huyện Hương Khê;Mẫu vật được mang về Hà Nội để làm tiêu bản nhồi bông và một mảnh da đầu nhỏ được tách ra để gửi ra nước ngoài giám định gen AND.
Sau hai cuộc khảo sát ở khu vực Vũ Quang, đầu năm 1993, trong khi điều tra để lập luận chứng kỹ thuật cho khu BTTN Pù Mát, tỉnh Nghệ An (nay là VQG Pù Mát), ông Nguyễn Ngọc Chính, cán bộ của viện ĐTQHR và các thành viên trong nhóm cũng phát hiện và thu thập được tiêu bản của loài dê sừng dài ở huyện Con Cuông và Tương Dương. Ở đây loài thú mới có trên địa phương là sao la, vì sừng của nó giống cái cọc đứng vót nhọn của sa quay sợi (được đồng bào Thái gọi là sao la).
Sau khi phát hiện, khoảng một năm, giữa năm 1993, ngày 3 tháng 6, trên tờ tạp chí Natute, số 363, loài thú lớn mới ở Vũ Quang đã được chính thức mô tả và công bố với tên khoa học Pseudoryx nghetinhensis. Các tác giả đã công bố loài trên là: Vũ Văn Dũng, Phạm Mộng Giao, Nguyễn Ngọc Chính, Đỗ Tước, Peter Arctander là nhà khoa học người Đan Mạch, đã tham gia phân tích AND và sắp xếp vị trí của loài thú mới trong họ Bò (Bovidae). Cũng từ năm 1993, trong các tài liệu của Việt Nam và thế giới, tên sao la được dùng để chỉ loài thú được phát hiện ở Vũ Quang.
Đầu năm 1993, một số sừng sao la được phát hiện ở làng Nakodok thuộc khu Bảo tồn Nakai-Nậm Thơm của Lào, gần khu BTTN Vũ Quang. Người Lào cũng gọi loài thú này là sao la. Cuối tháng 5-1993, một con sao la còn khoảng 4-5 tháng tuổi, nặng 18 kg, chiều cao vai 61 cm, chiều dài thân 153 cm, được người dân địa phương bắt sống tại Khe Tre, xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, thuộc phía Tây Bắc khu BTTN Vũ Quang. Con sao la con được mang về Hà Nội ngày 6-6-1993 và được Bộ Lâm nghiệp giao cho Viện ĐTQHR nuôi tại khu vườn thực vật của Viện gần thị trấn Văn Điển, Hà Nội. Sau hai tháng, con sao la đã nặng 32 kg, nhưng đã bị chết do gan có quá nhiều sán ký sinh.
Tới nay, qua công tác điều tra ở cả hai phía Việt Nam và Lào, đã có thể xác định được khu phân bổ của sao la. Nó kéo dài từ phía tây tỉnh Nghệ An, qua phía tây Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến tây bắc tỉnh Quảng Nam, về phía Lào, khu phân bố sao la cũng kéo dài ven biên giới Việt Lào từ phía nam tỉnh Huổi Phăn xuống đến đông bắc tỉnh Savanakhet. Toạ độ khu phân bổ 15 o30’- 20 o00 vĩ độ bắc và 104 o - 108 o, kinh độ đông. Các nhà khoa học cũng khẳng định đây là loài thú lớn đặc hữu của Việt Nam và Lào.
Để đánh giá giá trị khoa học và bảo tồn sao la, năm 1996, loài này được Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế - IUCN, xếp vào loại nguy cấp (E-Endangered) trong Danh mục Đỏ các loài thú bị đe doạ. Sao la cũng được đưa vào phụ lục I của Công ước CITES và Sách Đỏ Việt Nam và được xếp vào nhóm IB, các loài động vật quý hiếm, có giá trị khoa học và kinh tế đang bị nguy cơ diệt chủng, cấm khai thác và buôn bán, ban hành theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP, ngày 22-4-2002 của Chính Phủ Việt Nam
Tiếp theo phát hiện loài sao la, các nhà khoa học của Viện ĐTQHR cùng các đơn vị bạn lại tiếp tục phát hiện ra hai loài thú lớn khác là là loài mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) ở tây bắc Quảng Nam , năm 1996. Đây là những phát hiện rất quan trọng của ngành sinh vật học Việt Nam . Như vậy là trong thế kỷ thứ XX, các nhà khoa học chỉ tìm thêm được 7 loài thú có vú lớn, thì ở Việt Nam đã đóng góp tới 3 loài mới. Những phát hiện trên đã chứng tỏ tính đa dạng sinh học cao của thiên nhiên Việt Nam, đặc biệt là của vùng Trường Sơn. Cũng từ những phát hiện độc đáo này, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế đã đầu tư và tham gia tích cực hơn để tạo một bước ngoặt trong công tác bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.
Tuy vậy, rất tiếc là do nhiều sức ép của việc tăng dân số, việc mở rộng thị trường buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp, việc chuyển đổi phương thức sử dụng đất thiếu quy hoạch và do nhận thức của người dân về công tác bảo tồn còn nhiều hạn chế, nên thời gian gần đây số lượng các loài động vật rừng, đặc biệt số lượng quần thể của các loài thú lớn mới được phát hiện đang bị suy giảm nghiêm trọng, khu phân bố và nơi sống của chúng ngày càng bị thu hẹp. tình hình đó đòi hỏi mỗi người, đặc biệt đòi hỏi các nhà sinh học và các nhà lâm nghiệp Việt Namcần làm hết sức mình để bảo vệ nguồn tài nguyên rất độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Nguồn: Rừng & Đời sống tháng 9-2006.








