Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 04/01/2007 00:19 (GMT+7)

Một số vấn đề về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long

1. Khái quát về đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích tự nhiên là 39.734 km 2, có bờ biển dài trên 700 km từ bờ biển Đông sang bờ biển Tây Vịnh Thái Lan với hải phận trên biển rộng trên 360.000 km2. Đó là một đồng bằng rất bằng phẳng và rộng lớn thuộc châu thổ sông Mê Kông với đặc trưng rất nổi bật; chế độ ngập lũ theo mùa hàng năm với trên 1,2 triệu ha đất canh tác, chế độ ngập mặn do thuỷ triều biển với 1,5 triệu ha đất ven biển, có nhiều đất phèn tiềm tàng và phèn hoạt động với trên 1,5 triệu ha đất canh tác nằm sâu trong lục địa thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và vùng Bán đảo Cà Mau. ĐBSCL với tổng dân số năm 2005 là 17,3 triệu người gần bằng 21% dân số của cả nước. Tăng trưởng kinh tế hằng năm trong những năm gần đây đạt trên 8,55%, thu nhập bình quân đầu người khoảng 560 USD vẫn còn thấp hơn mức bình quân trong cả nước. Cơ cấu kinh tế của ĐBSCL hiện nay là: khu vực nông – lâm – ngư là 48%, khu vực công nghiệp và xây dựng là 22% và khu vực dịch vụ là 30%, trong đó đáng chú ý là cơ cấu lao động khu vực I là 60%, khu vực II là 13% và khu vực III là 27% đã cho thấy nền kinh tế - xã hội ở đây vẫn chủ yếu là nền kinh tế phụ thuộc sinh thái rất cơ bản.

ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất toàn quốc với sức sản xuất hàng năm trên 1,9 triệu tấn lúa, khai thác thuỷ hải sản trên 1,8 triệu tấn và trái cây ăn quả trên 1,4 triệu tấn các loại. Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp trong cả vùng chiếm hơn 1/3 của cả nước, nhưng đối với sản xuất công nghiệp chỉ chiếm hơn 10% cả nước đã cho thấy đây là một vùng công nghiệp chưa phát triển. Kim ngạch xuất khẩu trong khu vực năm 2004 là 2,48 tỷ USD và năm 2005 đạt khoảng 3 tỷ USD.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực ĐBSCL trong những năm qua từ 1988-2005 có tổng số 296 dự án với tổng vốn đăng ký là 1,977 tỷ USD trong đó vốn pháp định là 853,2 triệu USD và trong năm2005 đầu tư trực tiếp nước ngoài có 24 dự án với vốn đăng ký đạt 148,8 triệu USD. Vấn đề này cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực ĐBSCL vẫn còn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng phát triển kinh tế ở đây và so với nhiều khu vực khác trong cả nước vẫn ở mức thấp.

2. Tình hình phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp

Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước vào các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) tại các địa phương trong khu vực ĐBSCL đã trở thành động lực quan trọng, trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong toàn khu vực đã tạo ra làn sóng chuyển dịch cơ cấu sản xuất và hợp tác quốc tế rất mạnh mẽ, nhanh chóng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở mới hiện đại và có giá trị rất lớn, lâu dài cho phát triển kinh tế. Góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao trình độ dân trí, năng lực sản xuất công nghiệp và mở rộng thị trường cho sản xuất tiêu dùng và xuất khẩu. Đồng thời nâng cao năng lực trình độ công nghệ sản xuất trong hệ thống sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong nước trước xu tế hội nhập quốc tế.

Đến năm 2005 trong toàn khu vực ĐBSCL đã hình thành và phát triển 111 KCN và CCN, trong đó có 17 KCN do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Tổng số dự án đầu tư nước ngoài vào khu vực ĐBSCL là 70 dự án với tổng số vốn 485,723 triệu USD, số đầu tư trong nước là 424 dự án với tổng số vốn là 5.867 tỷ đồng. Đặc biệt, đã thu hút trên 32.000 lao động hoạt động trong các KCN và CCN ở ĐBSCL. Đánh giá thống kê thời gian qua cho thấy, quy mô diện tích mỗi dự án bình quân chiếm 1,4 ha với suất đầu tư dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là 6,93 triệu USD và dự án trong nước là 13,83 tỷ đồng. Các địa phương có quy mô đầu tư lớn tập trung ở một số tỉnh như TP. Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long, Long An, Cà Mau, Kiên Giang… đang có bước tăng tốc thu hút vốn đầu tư trong, ngoài nước và các KCN và CCN.

Thành phố Cần Thơ có KCN Trà Nóc I với diện tích là 135 ha trong đó đất công nghiệp là 95 ha, có tổng số 104 dự án trong đó có 67 dự án đã xây xong và đi vào hoạt động. Hiện nay khả năng lấp đầy các dự án đạt 100% trong KCN. Khu công nghiệp Trà Nóc II có diện tích 165 ha với diện tích đất công nghiệp là 114 ha thuộc quân Ô Môn đã có 19 dự án vào thuê 89,6 ha. Ngoài ra, còn có một số KCN mới đang hình thành và phát triển như KCN, tiểu thủ công nghiệp Thốt Nốt với trên 11 dự án đang làm thủ tục đầu tư, KCN Thới An, KCN Thới Long…

Tỉnh Bến Tre đang tập trung thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Giao Long với diện tích 149,8 ha được chia làm 2 khu là: Khu A (Giao Long) là khu vực chính các cơ sở sản xuất và các công trình phục vụ sản xuất có tổng diện tích 96,3 ha. Khu B (Giao Long) có diện tích 53,5 ha là khu dân cư phục vụ sản xuất và tái định cư…

Luồng đầu tư vào tỉnh Long An tăng mạnh, tập trung vào các KCN, CCN do đó có vị trí thuận lợi gần TP. Hồ Chí Minh. Diện tích đất công nghiệp có đủ điều kiện hạ tầng theo quy hoạch khoảng 5.000 ha trong đó giao cho các nhà đầu tư trực tiếp là 3.500 ha. Phân bố các loại hình công nghiệp là: Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, hàng tiêu dùng, công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng ít gây ô nhiễm… tập trung bố trí ở các KCN thuộc huyện Đức Hoà, Bến Lức, thị xã Tân An, Thủ Thừa. Công nghiệp nặng, công nghiệp ô nhiễm mức độ cho phép, sản phẩm cồng kềnh bố trí tại các KCN huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ… nhằm phân loại ô nhiễm để tập trung xử lý đáp ứng yêu cầu.

Tỉnh Đồng Tháp có 3 KCN đó là: KCN Sa Đéc đóng tại thị xã Sa Đéc với tổng diện tích 180 ha gồm 4 tiểu khu: tiểu khu C (30 ha), tiểu khu C mở rộng (60 ha), tiểu khu A (40 ha) và tiểu khu A mở rộng (50 ha). KCN Sa Đéc nằm cạnh phía Nam bờ sông Tiền, sát quốc lộ và tỉnh lộ 848 cách cầu Mỹ Thuận 15 km và có cảng tàu 5.000 tấn cập bến cảng. KCN Trần Quốc Toản tại thị xã Cao Lãnh với diện tích 60 ha, nằm sát quốc lộ 30 nối với quốc lộ 1A trên tuyến giao thương từ biên giới Việt Nam – Campuchia qua Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, TP. Hồ Chí Minh tiếp giáp bờ Bắc sông Tiền có cảng cập tàu 3.000 tấn cập bến.

Tỉnh Cà Mau có nhiều dự án về chế biến và sử dụng khí thiên nhiên như KCN Khi - Điện - Đạm Cà Mau, các KCN và CCN trong tỉnh đang tập trung phát triển.

Tỉnh Kiên Giang và các tỉnh còn lại đang tiếp tục hình thành nhiều KCN và CCN nhằm tăng cường phát triển lĩnh vực sản xuất công nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá.

3. Bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp và cụm công nghiệp

Vấn đề bảo vệ môi trường trong các KCN, CCN là vấn đề nóng bỏng có tính chất rất bức xúc trong phạm vi cả nước cũng như tại ĐBSCL. Trong cả nước có 131 KCN, khu chế xuất (KCX) mà trong đó mới chỉ có 33 KCN, KCX đã xây dựng hệ thống xử lý tập trung, 10 KCN, KCX khác đang tiến hành đầu tư xây dựng còn lại đều chưa có các dự án xử lý chất thải tập trung trong KCN, KCX. Ở khu vực ĐBSCL, vấn đề đầu tư hệ thống xử lý tập trung trong KCN, CCN chưa đáp ứng yêu cầu BVMT đặt ra. Hiện nay, chưa có KCN, CCN nào có hệ thống xử lý được đầu tư và vận hành đạt tiêu chuẩn môi trường quy định một cách hoàn chỉnh. Vấn đề thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường các KCN, các dự án đầu tư và Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường của các cơ sở vẫn còn mang tính thủ tục chưa thật sự là căn cứ để các Ban quản lý các KCN, các chủ doanh nghiệp tập trung vào đầu tư các hệ thống xử lý theo quy định của Luật BVMT. Quy hoạch các KCN, CCN chất lượng chưa cao trong việc bố trí các khu chức năng chưa phù hợp, khả năng dự báo và lượng hoá số lượng và chất lượng các nguồn thải như khí thải, rác thải công nghiệp, rác thải công nghiệp nguy hại, nước thải sản xuất công nghiệp… còn rất hạn chế làm ảnh hưởng đến khả năng hoạch định kế hoạch xử lý triệt để các nguồn thải này là rất khó khăn. Một số khá lớn các KCN, CCN còn rất lúng túng trong lựa chọn công nghệ thích hợp và đặc biệt là nguồn vốn đầu tư vận hành hệ thống xử lý liên tục cũng như việc bố trí nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ BVMT trong các KCN, CCN. Các KCN, CCN còn tập trung quan tâm khả năng lấp đầy các dự án đầu tư mà thiếu bố trí các khu chức năng, loại hình sản xuất phù hợp để đảm bảo các yêu cầu BVMT cũng như an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường công nghiệp, phòng chống sự cố môi trường có thể xảy ra. Bên cạnh đó các KCN, CCN chưa đảm bảo chế độ quan trắc môi trường định kỳ, trang thiết bị quan trắc môi trường còn rất hạn chế, thực hiện quy định báo cáo môi trường cho các cơ quan quản lý về BVMT còn chưa đều đặn, sự hợp tác phối hợp giữa Ban quản lý KCN, CCN, cơ quản BVMT, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư còn chưa chặt chẽ… đã hạn chế đến nhiệm vụ BVMT trong các KCN, CCN ở ĐBSCL.

Để đảm bảo yêu cầu BVMT trong các KCN, CCN thuộc khu vực ĐBSCL, các Ban quản lý KCN, CCN và chủ doanh nghiệp cần tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:

- Đối với Ban Quản lý các KCN, CCN,phải tuân thủ nghiêm ngặt Quy hoạch phát triển tổng thể đã được các cấp chính quyền phê duyệt, phải bố trí các khu chức năng và loại hình sản xuất phù hợp đáp ứng yêu cầu BVMT. Đầu tư và vận hành các hệ thống thu gom tập trung, phân loại hợp lý chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn nguy hại, phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung, hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường quy định. Có cảnh quan môi trường trong KCN, CCN đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khoẻ người lao động, có hệ thống quan trắc cảnh báo môi trường và có đủ bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ BVMT tại KCN, CCN. Đặc biệt các KCN, CCN tập trung có nguy cơ tác hại môi trường lớn còn phải đáp ứng khoảng cách an toàn với khu dân cư và các khu bảo tồn thiên nhiên.

- Đối với các doanh nghiệp,phải tuân thủ các quy định về BVMT như có hệ thống hạ tầng thu gom và xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu xử lý tập trung, các thiết bị thu gom, phân loại và lưu giữ chất thải rắn công nghiệp, đảm bảo các nguồn lực phòng chống sự cố môi trường. Các kho tàng và các doanh nghiệp phải đảm bảo an toàn về khoảng cách đối với khu vực dân cư xung quanh đặc biệt là các chất dễ cháy nổ, chất phóng xạ hoặc bức xạ mạnh, chất độc hại đối với môi trường và sức khoẻ cho con người và gia súc gia cầm, phát tán mùi hôi, bụi… để bảo đảm tiêu chuẩn môi trường quy định.

Nguồn: T/c Khoa học Cần Thơ, số 4, 2006

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Đắk Lắk: Góp ý Đề án điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Ngày 21/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn, phản biện và góp ý đối với Đề án điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. TS. Phan Xuân Lĩnh, Chủ tịch Liên hiệp hội, chủ trì cuộc họp.
Lào Cai: Khởi động dự án Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững
Ngày 25/5, tại xã Đông Cuông, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng Yên Bái (YENBAI CDSH) tổ chức hội thảo khởi động dự án “Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững” để giới thiệu các nội dung của Dự án và kế hoạch triển khai năm thứ nhất.
Thanh Hóa: Phản biện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa
Sáng ngày 22/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội thảo khoa học phản biện “Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đổi mới và tự chủ của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa giai đoạn 2026 - 2030”.
Hải Phòng: Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sáng 21/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp với Hội Nữ trí thức thành phố tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố Hải Phòng trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”.
GS.TSKH Phan Xuân Dũng: "Hãy trao dũng khí để trí thức dám nghĩ, dám làm và đưa đất nước vươn mình"
Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) năm nay mang ý nghĩa đặc biệt khi đất nước đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển, hướng tới khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên số. Trong dòng chảy ấy, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ càng được đặt ở vị trí trung tâm, không chỉ với sứ mệnh nghiên cứu mà còn là lực lượng kiến tạo động lực phát triển mới cho quốc gia.
VICA - Khẳng định vị thế kế toán hành nghề Việt Nam
Trong bức tranh kinh tế năng động của Việt Nam hiện nay, dịch vụ kế toán, kiểm toán đã khẳng định vị thế là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp, không thể thiếu đối với sự vận hành minh bạch của thị trường. Đằng sau sự phát triển đó, không thể không nhắc đến vai trò của Chi Hội Kế toán hành nghề Việt Nam (VICA).