Một số thành tựu về NC KHCN trong nông nghiệp những năm gần đây
1. Trong lĩnh vực Trồng trọt: Trên cơ sở kết hợp tốt những công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại trong công tác chọn tạo giống như: ứng dụng phương pháp marker phân tử để xác định vị trí của gen trên nhiễm sắc thể hỗ trợ cho công tác tạo giống mới; nghiên cứu chuyển gen qui định tính trạng mong muốn cho một số cây trồng, các nhà khoa học Đã chọn tạo được 31 giống cây trồng, 4 cây đầu dòng, 19 tiến bộ kỹ thuật và đề nghị khu vực hoá 48 giống cây trồng; Đã xây dựng được quy trình chọn và nhân các dòng bất dục CMS, TGMS trong sản xuất lúa lai. ứng dụng công nghệ nuôi cấy tế bào soma để phục tráng và cải tiến lúa tám; Hoàn chỉnh quy trình công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng để tạo cây có múi sạch bệnh. Một số tổ hợp lúa lai được tạo ra trong nước cho năng suất cao hoặc chất lượng gạo tốt như VL20, HYT 57... Đã bước đầu mở ra triển vọng tự sản xuất hạt giống lúa lai trong nước. Đã tạo ra và đưa đi thử nghiệm ở các địa phương giống "siêu lúa", năng suất trung bình đạt 8-10 tấn/ha, năng suất tiềm năng có thể đạt tới 12 tấn/ha ( Giống MT 58-1, CV-01). Đã chọn được giống lạc L18 cho năng suất cao 5 tấn/ha trên diện tích thử nghiệm.
2. Trong lĩnh vực Chăn nuôi: Đã chọn lọc 500 bò sữa lai F1, F2, F3 hạt nhân và 12 đực giống 3/4 và 5/8 máu bò HF; đánh giá các chỉ tiêu sinh sản, năng suất của chúng; chọn lọc tạo 8 giống bò sữa có năng suất bình quân toàn đàn 4000kg sữa/chu kỳ. Bước đầu nghiên cứu thành công nhân vô tính bằng phương pháp cắt phôi để tạo ra cặp bê song sinh giống nhau về đặc điểm di truyền, sau 120 ngày nuôi đạt 143 kg/1 bê. Đã chọn lọc và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của 2.241 lợn hạt nhân dòng mẹ (nhóm lợn sinh sản) của các giống Yorkshire, Landrace và 300 lợn dòng bố (nhóm sinh trưởng) của các giống Duroc, Pietrain và Landrace. Đã chọn lọc nhân thuần, và cung cấp cho sản xuất 210.000 gà Ri thuần một nguồn gen quý trong nhiều năm Đã bị pha tạp để tạo thành một hệ thống nhân giống thuần cung cấp giống cho sản xuất.
3. Nghiên cứu đề xuất các qui trình công nghệ mới: Hoàn thiện quy trình sản xuất tổ hợp lúa lai Bắc ưu 903, Bắc ưu 64, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, HYT 57, HYT 83 giúp địa phương chủ động sản xuất hạt lai F1 đạt năng suất trên 2 tấn/ha. Xây dựng thành công phương pháp tạo dòng thuần ở ngô bằng nuôi cấy bao phấn tạo ra dòng đơn bội kép có độ đồng hợp tử tuyệt đối, hoàn toàn không phân ly ở các thế hệ sau. Tạo được hai chế phẩm B.b (OM 1-R) và M.a (OM 2-B) sản xuất từ 2 chủng nấm chọn lọc, nguồn gốc tại Ô Môn, Cần Thơ có hiệu lực diệt rầy nâu cao. Chế phẩm nấm xanh, M.a (OM 2-B) có hiệu lực cao với bọ xít hôi hại lúa. Đã có kết quả ban đầu về xác định giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn cho bò sữa, lợn, gia cầm... Về bảo quản, chế biến nông lâm sản và cơ khí nông nghiệp: Đã nghiên cứu và áp dụng thành công công nghệ sấy hồi lưu, sấy hồng ngoại để sấy rau quả xuất khẩu có năng suất 5000kg/ngày; xe thu hái điều năng suất 2,5 ha/công lao động; quy trình công nghệ sấy vải có công nghệ sấy thích hợp thành hai giai đoạn: sấy ở 60 0C đến độ ẩm 60% rồi sấy tiếp ở nhiệt độ 70 oCđến độ ẩm 30%. Đã áp dụng chế phẩm vi sinh Bathurin S để phòng trừ sâu mọt, bảo quản thóc dự trữ quốc gia ở Thái Nguyên và Thái Bình. Nghiên cứu phương pháp bảo quản bằng biện pháp khống chế môi trường khí để bảo quản hoa quả như măng cụt, dứa, thanh long, nhãn... Hoàn thiện các quy trình bảo quản vải thiều, cam ở nhiệt độ trong phòng đối với cam sành được 90 ngày. Bảo quản vải ở nhiệt độ lạnh 5 0C được 40 ngày. Hoàn thành nghiên cứu tổng quan hiện trạng sản xuất và yêu cầu cơ bản của một số loại rau quả làm nguyên liệu cho bảo quản và chế biến; thiết kế và chế tạo thành công một số thiết bị như: thiết bị phát ôzôn công suất 4g/h phục vụ công nghệ bảo quản rau quả tươi bằng khí ôzôn, máy rửa và xử lý rau quả tươi 0,5-1 tấn/h, máy ép vắt bã sắn 3 tấn/h, máy sấy bã sắn kiểu khí động học 6 tấn/h. Đang triển khai và dự kiến hoàn thành trong năm 2002 máy đào rãnh trồng mía kiểu trục xoắn, máy gieo hạt ngô, máy chăm sóc chè, máy xử lý thân cây dứa, máy thu hoạch ngô.
4. Về Qui hoạch và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi: Nghiên cứu qui hoạch sử dụng đất theo phương pháp phân tích hệ thống (cấp tỉnh), giúp các nhà hoạch định chính sách có căn cứ khoa học để qui hoạch đất nông nghiệp. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin để hình thành hệ thống thông tin hiện đại phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn. Đang thực hiện xây dựng mô hình phần mềm về cơ sở dữ liệu cho 7 tỉnh điểm. Nghiên cứu qui hoạch, qui trình khai thác, sử dụng, bảo vệ đất có vấn đề ven biển (bãi bồi, đất cát ven biển); Đánh giá về hiệu quả của các loại hình sử dụng đất cát ven biển và đất bãi bồi ven biển, xây dựng qui hoạch khai thác sử dụng.
5. Trong lĩnh vực Lâm nghiệp: Đã chọn được 31 cây trội thuộc 8 tổ hợp lai bạch đàn là U29E1, U29E2, U29C3, U29C4, U29U24, U29U26, U15C4, U30E5 năng suất t ăng từ 20-200%. Chọn được 5 xuất xứ tốt (Cardwell, Byfield, Poptun2, Poptun3, Alamicamba) thuộc biến chủng Honduensis của thông Caribaea thể tích t ăng hơn 20% so với giống đại trà. Đã chọn được 5 xuất xứ của 3 loài keo chịu hạn, 2 dòng vô tính phi lao (TT2.6 và TT2.7), năng suất tăng 150-200% so với giống trồng đại trà.
6.Trong lĩnh vực Thuỷ lợi:Tính toán thử về ổn định, thấm, kết cấu, cống dưới đập, tràn xả lũ hồ chứa đập miền Trung bằng các phần mềm. Nghiên cứu chế tạo cừ bản nhựa thay nhập ngoại dùng cho công trình thuỷ lợi. Ứng dụng công nghệ phun bắn bê tông để gia cố nhanh các bờ kênh đi qua vùng đất yếu và sửa chữa các công trình bê tông cốt thép. Chế tạo phụ gia chống thấm bê tông, gia cố đất, doăng chất dẻo phục vụ công tác sửa chữa và xây dựng mới công trình thuỷ lợi. Cải tiến trong thiết kế và chế tạo thành công được bơm va cải tiến không cần dùng điện, phù hợp với miền núi Việt Nam về địa hình cũng như tập quán. Phát triển việc sử dụng thiết bị Ra đa xuyên đất để phát hiện nhanh và chính xác vị trí, kích thước, các khuyết tật, lỗ rỗng trong lòng đất đê, đập.








