Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 15/09/2007 00:08 (GMT+7)

Một số kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh sản và công nghệ sản xuất giống tôm rảo (Metapenaeus ensis de Haan, 1844)

Ở Việt Nam , hầu hết các nghiên cứu về tôm rảo đều tập trung vào điều tra nguồn lợi tôm rảo ở biển. Mục tiêu của đề tài này là trên cơ sở kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học, triển khai xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo tôm rảo.

Kết quả nghiên cứu

1. Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống tôm rảo

a. Lựa chọn tôm bố mẹ

Từ kết quả nghiên cứu, đã chọn được những tôm bố mẹ thành thục sinh dục. Tôm mẹ có chiều dài nhỏ nhất 120mm, khối lượng nhỏ nhất 15g. Khối lượng trung bình của tôm mẹ là 17,88g; đẻ 120.608 trứng, nở 108.000 ấu trùng nauplius (tỷ lệ nở đạt 89,5%). (xem bảng 1)

Bảng 1: Chiều dài và khối lượng tôm rảo thành thục sử dụng để thí nghiệm tại Cát Bà

Chỉ số

Tôm đực

Tôm cái

Chiều dài (mm): Nhỏ nhất

                         Trung bình

                         Lớn nhất

108,00

127,30

147,00

120,00

149,10

181,00

Khối lượng (g): Nhỏ nhất

                        Trung bình

                        Lớn nhất

10,00

16,29

25,00

15,00

29,06

45,00

b. Sức sinh sản của tôm rảo

Bảng 2: Sức sinh sản của tôm rảo qua các đợt nghiên cứu

Ðợt thí nghiệm

Số lượng tôm mẹ (con)

Tổng khối lượng tôm mẹ (g)

Tổng số trứng thu được

Tổng số ấu trùng nauplius thu được

1

28

420

4.600.000

4.500.000

2

36

900

4.830.000

4.000.000

3

9

102

470.000

400.000

4

85

1.450

8.750.000

7.580.000

5

105

1.830

13.070.000

11.924.000

Cộng

263

4.702

31.720.000

28.404.000

c. Sự phát triển của trứng và ấu trùng

Trứng tôm rảo sau khi đẻ có màu trắng đục, đường kính khoảng 0,28mm, đường kính noãn hoàng 0,22mm. ở nhiệt độ 25 - 290C, quá trình phát triển phôi diễn ra trong vòng 12 - 15 giờ, sau đó trứng nở thành ấu trùng nauplius.

Giai đoạn Nauplius gồm 6 giai đoạn nhỏ:

- Nauplius I : Có dạng quả lê, chiều dài trung bình 0,27mm. Cơ thể không phân đốt, phần dưới rộng và có 1 mắt đơn, phần sau tròn và có gai. ấu trùng có 3 đôi phần phụ. Ðôi thứ nhất chỉ có 1 nhánh, tận cùng có 3 gai nhỏ. Ðôi thứ 2 chia 2 nhánh, nhánh ngoài dài hơn nhánh trong. Nhánh ngoài có 6 gai, nhánh trong có 5 gai. Ðôi phần phụ thứ 3 chia 2 nhánh, mỗi nhánh tận cùng có 3 gai.

- Nauplius II : Chiều dài trung bình 0,28mm. Ðôi phần phụ thứ nhất có 7 gai : 3 gai ở mặt trong, 3 gai cuối với gai giữa dài nhất và 1 gai ở mặt ngoài. Ðôi thứ 2 có gai thứ 4 của nhánh ngoài chẻ đôi ở đỉnh. Ðôi thứ 3 không thay đổi.

- Nauplius III : Phần cuối cơ thể phát triển thêm thành 3 gai ở mỗi bên.

- Nauplius IV : Phần chạc đuôi có 4 gai ở mỗi bên, cơ thể bắt đầu kéo dài.

- Nauplius V : Chạc đuôi phát triển, mang mỗi bên 6 gai. Hai gai ở đỉnh của đôi phần phụ thứ nhất dài xấp xỉ nhau. Nhánh trong của đôi phần phụ thứ 2 có 3 gai dài ở đỉnh và 2 gai ngắn ở mặt trong. Nhánh ngoài có 9 gai.

- Nauplius VI : Cơ thể kéo dài, ranh giới phần đầu ngực rõ rệt. Các cơ quan ở phía trước cơ thể phát triển. Chạc đuôi có 7 gai ở mỗi bên.

Toàn bộ 6 giai đoạn ấu trùng nauplius sống nhờ noãn hoàng. Quá trình biến thái diễn ra trong khoảng 36-50 giờ ở nhiệt độ 25-320C.

Giai đoạn Protozoea (zoea) gồm 3 giai đoạn nhỏ:

- Protozoea I : Chiều dài khoảng 0,80mm. Vỏ đầu ngực lượn tròn ở phía trước với 1 rãnh ở giữa. Mắt đơn vẫn tồn tại, mắt kép đang phát triển. Phần chạc đuôi có 7 gai ở mỗi bên. Phần bụng chia 7 đốt. Ðôi phần phụ thứ nhất chia 3 đốt : đốt gối, đốt giữa và đốt tận cùng. Ðốt tận cùng có gai rất dài. Ðôi phần phụ thứ 2 chia 2 nhánh: nhánh trong chia 2 đốt, nhánh ngoài chia 10 đốt.

- Protozoea II : Chiều dài khoảng 1,5mm. Chuỳ và mắt kép đã phát triển, đã có gai ở bên mắt

- Protozoea III : Chiều dài khoảng 1,9mm. Các đốt bụng từ 1 đến 5, mỗi đốt có 1 gai ở phía sau phần lưng, riêng đốt thứ 5 có cả 2 gai sau và bên. Mỗi thuỳ của tấm đuôi có 7 gai, chạc đuôi chia 2 nhánh, nhánh ngoài có 6 gai ngắn ở tận cùng.

ấu trùng zoea ăn thức ăn ở ngoài là các loại tảo có kích thước nhỏ. Thời gian biến thái của cả 3 giai đoạn zoea đều dưới 12 tiếng, tuỳ điều kiện nhiệt độ.

ấu trùng bắt mồi theo cơ chế lọc thụ động và luôn bơi hướng về phía trước, có tính hướng quang mạnh như ấu trùng zoea của các loài tôm he.

Giai đoạn Mysis gồm 5 giai đoạn nhỏ:

- Mysis I : Chiều dài khoảng 2,4mm. Chuỳ dài vượt quá mắt và chưa có răng. Vỏ đầu ngực có gai anten. Ðốt bụng 5 và 6 có gai trung tuyến ở phần lưng. Chân bò có 5 đôi giống nhau. Chạc đuôi chia 2 nhánh : nhánh ngoài và nhánh trong. Mấu đôi có phần cuối rộng hơn mang và có 1 khe trung tuyến sâu.

- Mysis II : Chiều dài khoảng 2,5mm. Chuỳ kéo dài xấp xỉ bằng mắt và có một gai ở mặt lưng. Phần bụng vẫn chưa xuất hiện các mấu của chân bơi. Gai trung tuyến của đốt bụng thứ 6 đã phát triển.

- Mysis III : Chiều dài khoảng 2,7mm. Chuỳ có 2 răng ở mặt lưng, các mấu của chân bơi xuất hịên nhỏ và chưa phân đốt.

- Mysis IV : Chiều dài khoảng 2,9mm. Các mấu của chân bơi phát triển dài ra nhưng chưa phân đốt. Khe trung tuyến của mấu đuôi hẹp và nông dần.

- Mysis V : Chiều dài khoảng 3,1mm. Mắt vượt qua chiều dài thuỳ. Các chân bơi chia 2 đốt. Các chân bò 1, 2, 3 phát triển kém. Tấm đuôi lồi lên ở phía sau.

Mysis của tôm rảo cũng bơi lộn ngược, đầu chúc xuống theo cột nước và có tính hướng quang. ở nhiệt độ 25-320C, quá trình biến thái của các giai đoạn mysis diễn ra trong khoảng 140-280 giờ (6-11 ngày), sau đó lột xác chuyển sang giai đoạn postlarva.

Postlarva I : Chiều dài khoảng 3,2mm. Chuỳ ngắn lại và có 3 răng ở mặt lưng. Mặt bụng không có gai. Các chân bơi phát triển đầy đủ. Tấm đuôi mang có 3 gai ở mặt bên và 8 gai ở phần cuối. Từ giai đoạn này trở đi, tôm bắt đầu bơi ngang và chìm xuống đáy.

2. Thử nghiệm sản xuất giống

Ðã tiến hành thử nghiệm cho đẻ tôm rảo để thu tôm giống trên quy mô sản xuất và đã thu được kết quả như sau:

Trong 2 đợt của năm 1999, thu được hơn 10 triệu tôm giống. Năm 2000, số lượng tôm rảo giống sản xuất tại trạm Cát Bà là 30 triệu con và đã được nuôi rộng rãi ở nhiều đầm nuôi ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Nam Ðịnh.

Bảng 3. Kết quả thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo tôm rảo tại Cát Bà năm 1997 1999

Các chỉ số

Ðợt III

Ðợt IV

Ðợt V

Ðợt VI

Ðợt VII

Thời gian bắt đầu

9/1997

6/1998

7/1998

7/1999

10/1999

Thể tích sử dụng (m 3)

24

12

12

12

12

Nhiệt độ nước ( 0C)

25 - 28

29 - 30

28 - 30

28 - 30

23 - 26

Ðộ mặn ( 0/ 00)

30 - 32

25 - 28

27 - 29

30 - 32

30 - 32

pH

8,2 8,7

8,0 8,4

8,1 8,5

8,2 8,3

8,2 8,4

Thời gian biến thái (giờ)

Nauplius

45 - 50

36 - 40

38 - 42

34 - 39

45 - 50

Protozoea

96 - 120

84 - 108

96 - 108

86 - 96

100 - 112

Mysis

168 - 288

144 - 240

168 - 264

150 - 168

170 - 210

Tỷ lệ sống (%)

Nauplius

79,25

75,30

69,71

96,2

88,2

Protozoea

64,82

71,05

81,42

89,3

78,9

Mysis

73,34

80,29

75,89

79,6

84,5

PL 20

11,39

13,08

10,77

25,3

24,7

Năng suất PL 20/m 3

20,416

24,166

17,500

28,366

26,737

Tổng số tôm giống PL 20 thu được (con)

500.000

1.700.000

2.300.000

6.000.000

4.000.000

Kết luận

1. Tôm rảo là đối tượng nuôi quan trọng và có sản lượng cao nhất trong các đầm nuôi ở các tỉnh ven biển phía Bắc. Hiện nay, lượng tôm giống từ biển vào đầm giảm sút nghiêm trọng. Do vậy, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống tôm rảo sẽ giúp giải quyết vấn đề thiếu giống nuôi.

2. Tôm rảo phân bố ở vùng biển Cát Bà - Long Châu có kích thước lớn, sinh sản tập trung từ tháng 6 đến tháng 10.

3. Tôm rảo có sức sinh sản tuyệt đối đạt trung bình 120-130 nghìn trứng/1 tôm mẹ, sức sinh sản tương đối đạt 6.746 trứng/g tôm mẹ, tỷ lệ thụ tinh của trứng tôm rảo 93,7%. Tỷ lệ nở 89,6%.

4. ở nhiệt độ nước 25-290C, trứng tôm rảo nở sau 12-15 giờ. Quá trình biến thái của tôm rảo trải qua 3 giai đoạn (nauplius, protozoea, mysis) mỗi giai đoạn có nhiều giai đoạn nhỏ và thời gian biến thái dài hơn ấu trùng của một số loài tôm he.

5. Các loài tảo: Isochrysis, Tetraselmis, Chaetoeros là thức ăn phù hợp cho ấu trùng tôm rảo. Thức ăn phù hợp cho giai đoạn mysis và từ PL1 đến PL5 là Skeletonema costatum và luân trùng. Từ PL5 - PL10, tôm rảo thích ăn ấu trùng nauplius của Artemia.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.