Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/09/2011 18:14 (GMT+7)

Một số kết quả, kinh nghiệm về giải quyết các vấn đề xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trưởng, chính sách, chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng khối đoàn kết toàn dân ở Tây Nguyên, tiêu biểu như Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên thời kỳ 1996 - 2000 và năm 2010 theo Quyết định 656-TTg ngày 13 - 9 - 1996 của Thủ tướng Chính phủ, Chương trình Định hướng dài hạn 5 năm 2001 - 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên theo Quyết định 168/2001/QĐ–TTg ngày 30 - 10 - 2001 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt, ngày 18 - 01 - 2002, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về việc phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010, ngày 05 - 02 - 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010. ..Với sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của các đảng bộ, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên nên những kết quả đạt được về phát triển kinh tế - xã hội nói chung, giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn Tây Nguyên là đáng được ghi nhận.

Về giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS nghèo theo Chương trình 134 đã được triển khai trên tục trong nhiều năm qua. Tính đến tháng 12 - 2008, đã giải quyết 5.726 ha đất sản xuất cho 15.899 hộ (đạt 78,03%); 224,7 ha đất ở cho 7.804 hộ (đạt 80,66%). Về nhà ở, đã làm mới, sửa chữa 58.249 căn, đạt 99,08% kế hoạch. Về nước sinh hoạt, đã giải quyết cho 30.391 hộ, đạt 74,65% kế hoạch. Đặc biệt là đã thực hiện thí điểm giao khoán khoảng 70.000 ha rừng cho 4.400 hộ đồng bào DTTS nghèo thiếu đất sản xuất. Một số nơi bước đầu phát huy hiệu quả nhờ vận dụng tốt cơ chế quản lý và hưởng lợi có thể nhân rộng ra như mô hình ở huyện Ea H’Leo (tỉnh Đắc Lắk), huyện K’Bang (tỉnh Gia Lai).

Các tỉnh đã có nhiều cố gắng trong công tác dạy nghề, giải quyết việc làm, từng bước giảm tỷ lệ thất nghiệp cho đồng bào DTTS. Trong 5 năm từ 2002 -2007, toàn vùng đã đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho 135.600 lao động DTTS, tuyển dụng 11.300 người vào các công ty, nông trường, đưa số lao động DTTS trong các doanh nghiệp lên 15.568 người. Tính đến hết năm 2010, toàn vùng Tây Nguyên có khoảng 1 triệu lao động được giải quyết việc làm, trong đó trên 180.000 lao động DTTS.

Công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai liên tục bằng nhiều giải pháp với gần với 111.000 hộ được xóa nghèo. Đã giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đói triền miên trong vùng đồng bào DTTS và giảm tỷ lệ hệ DTTS nghèo từ 57,84% năm 2005 xuống còn 40,20% năm 2007, còn 32,93% năm 2008 và đến năm 2010 xuống còn 19,9% năm 2010.

Giáo dục vùng DTTS được quan tâm đúng mức, nhờ đó mà hệ thống trường, lớp của các cấp học, bậc học trong vùng dân tộc thiểu số được mở rộng, đáp ứng phần lớn nhu cầu học tập của con em đồng bào DTTS. Cơ sở vật chất trường lớp cải thiện khá rõ, từng bước xóa bỏ tình trạng học ba ca. Nhiều chính sách giáo dục được thực hiện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số như tăng mức hỗ trợ học phí cho học sinh dân tộc thiểu số, cấp không sách vở học sinh, hỗ trợ học phí cho học sinh trường bán trú dân nuôi, do vậy, số học sinh DTTS cũng tăng theo thời gian. Theo đó, trong năm học 2003 - 2004, toàn vùng Tây Nguyên có 460.518 học sinh dân tộc thiểu số thì đến năm học 2006 - 2007 đã tăng lên 503.711 học sinh, tăng 43.193 học sinh. Tính đến đầu năm 2010, toàn vùng Tây Nguyên đã có 96% số xã hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, 85% số xã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở; tỷ lệ trong độ tuổi đến trường giữ vững 98,7%.

Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đã được quan tâm hơn, đạt được những kết quả quan trọng. Tính đến tháng 9 - 2008, có 99,26 xã, phường có trạm y tế; 45,19% xã, phường có bác sĩ. Đội ngũ cán bộ y tế thôn, buôn được tăng cường. Nhiều dịch bệnh đã từng bước được khống chế (sốt rét, lao giảm, bướu cổ,...). Hầu hết đồng bào DTTS đều được cấp thẻ bảo hiếm khám, chữa bệnh miễn phí.

Về văn hóa, công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn văn hóa dân tộc đã đạt được một số kết quả tích cực. Tháng 11 - 2005, "Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, đã được UNESCO công nhận là "kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại”. Đây là niềm tự hào không chỉ của riêng vùng đất Tây Nguyên mà còn là niềm tự hào của nền văn hóa Việt Nam, mở ra cơ hội phát triển kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện để giữ gìn vốn văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc ta. Các tỉnh ở Tây Nguyên từng bước đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa cấp xã, thôn, buôn. Tính đến hết năm 2007, đã xây dựng 2.135 nhà Rông, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, công nhận 4. 655 thôn, buôn văn hóa (67% số thôn, buôn, tổ dân phố). Mạng lưới phát thanh - truyền hình được mở rộng, cơ bản phủ sóng hầu hết các khu vực dân cư, phát sóng với thời lượng ổn định bằng nhiều thứ tiếng DTTS, bảo đảm ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin, truyền thông của đồng bào các dân tộc.

Những kết quả đạt được trên đây là đáng được ghi nhận, nó chứng tỏ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang từng bước đi vào cuộc sống vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Đạt được những kết quả trên là nhờ có sự tập trung trong lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, sự điều hành tập trung, quyết liệt của các cấp, các ngành địa phương trên địa bàn Tây Nguyên. Đó còn là kết quả của sự vươn lên mạnh mẽ của đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đã đóng góp vào sự phát triển chung của toàn vùng Tây Nguyên.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc giải quyết các vấn đề xã hội vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên còn có nhũng hạn chế, đó là: công tác xóa đói giảm nghèo chưa vững chắc, bộ phận dân cư cận nghèo và tái nghèo còn rất lớn , nhất là ở vùng đồng bào DTTS tại chỗ. Tỷ lệ hộ đói nghèo trong đồng bào DTTS còn cao. Tình trạng thanh niên DTTS thiếu việc làm còn nhiều, đang trở thành vấn đề bức xúc.

Công tác định canh, định cư và sắp xếp ổn định dân di cư tự do còn nhiều bất cập, thiếu quỹ đất đáp ứng lâu dài cho tách hộ đồng bào DTTS. Việc giải quyết các vấn đề liên quan giải tỏa, đền bù, tái định canh, định cư khi xây dựng các cộng trình thủy điện, thủy lợi chưa thực sự tốt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân.

Việc tổ chức thực hiện các chính sách về đất đai, nhà ở, việc làm còn rất chậm và lúng túng. Mục tiêu giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số chưa hoàn thành với hơn 11.000 hộ chưa có đất sản xuất. Một số nơi giải quyết đất sản xuất cho đồng bào là đất xấu, độ dốc cao, xa nơi ở nên việc sản xuất không mang lại hiệu quả. Chính sách giao đất, giao rừng và xã hội hóa nghề rừng chậm tiến triển. Rừng gắn liền với tập quán sản xuất và sinh sống của đồng bào DTTS nhưng chưa có chính sách và giải pháp phù hợp để đồng bào gắn bó, cải thiện cuộc sống từ rừng, ngay cả đối với các hộ đang sống trong vùng lõi của các vườn quốc gia. Đây là những vấn đề tác động không nhỏ đến sự ổn định và phát triển của vùng Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay và cả lâu dài về sau.

Việc nâng cao dân trí, cải thiện đời sống tinh thần cho đồng bào DTTS còn yếu kém. Các phong trào, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao trong vùng đồng bào DTTS nặng về hình thức, chưa đi sâu vào việc giữ gìn, phát huy tập quán, bản sắc văn hóa dân tộc. Phần lớn nhà văn hóa cộng đồng ở nhiều buôn làng không phát huy được hiệu quả, thiếu nội dung, phương tiện sinh hoạt văn hóa theo phong tục, tập quán của đồng bào. Chất lượng dạy và học trong vùng DTTS thấp so với mặt bằng chung. Tỷ lệ bỏ học còn nhiều, hệ thống trường dân tộc nội trú chưa đáp ứng được yêu cầu cả về cơ sở vật chất, số lượng và chất lượng học sinh, trường dạy nghề chưa được mở rộng. Việc dạy song ngữ nhiều nơi mới ở dạng thí điểm, công tác tạo nguồn và thực hiện chế độ cử tuyển học sinh DTTS chưa hợp lý.

Tổng kết, đánh giá, chỉ rõ kết quả đã và chưa làm được, từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn Tây Nguyên đạt kết quả tốt hơn trong các giai đoạn tiếp theo là rất cần thiết. Bước đầu có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

Một là,để giải quyết các vấn đề xã hội vùng đồng bào DTTS có hiệu quả, cần phải tập trung, kết hợp giải quyết đồng bộ cả chính trị - tư tưởng, kinh tế, an ninh - quốc phòng, gắn đầu tư phát triển kinh tế với chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, nhất là hệ thống chính trị cơ sở. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi phải có sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương; phải có cơ chế, giải pháp đồng bộ để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể của từng vùng, từng địa phương. Trong xử lý, giải quyết những vấn đề thực tiễn, cụ thể phải luôn coi trọng tính đặc thù, đặc điểm, tâm lý, phong tục, tập quán của đồng bào DTTS. Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách.

Hai là,phải xác định giải quyết các vấn đề xã hội nói chung, công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm, phải được tập trung chỉ đạo với nhiều giải pháp tích cực. Phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn để phục vụ cho việc phát triển các ngành nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường giao thông đi lại cả hai mùa, có điện, hệ thống cấp nước, trạm y tế, trường học và các dịch vụ thiết yếu khác. Phải tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa, lấy nền tảng kinh tế hộ của đồng bào làm cơ sở. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, lựa chọn xây dựng những mô hình làm ăn có hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng dân tộc để giúp nâng cao khả năng và kỹ năng sản xuất hàng hóa của đồng bào. Tổ chức lại mạng lưới hệ thống khuyến nông, khuyến lâm đến hộ đồng bào, tiếp tục giải quyết đất sản xuất, giao rừng, khoán rừng cho cộng đồng buôn làng ở những nơi gần rừng để làm thế nào đồng bào có việc làm, tăng thu nhập.

Ba là, phải xây dựng con người vùng đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên có đủ trình độ, tri thúc - đây là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội nói chung, giải quyết các vấn đề xã hội nói riêng. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các định hướng cho việc phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội chưa được thực hiện tốt, có những lĩnh vực phát triển chưa bền vững,... Trong đó, nguyên nhân chính là do trình độ của đồng bào còn thấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra.

Do đó , muốn phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội có hiệu quả, phải xây dựng con người mới với nhận thức và tri thức cần thiết để đồng bào có thể thực hiện các dự án định canh định cư, phát triển kinh tế - xã hội , y tế, giáo dục. Không có con người mới với nhận thức và tri thức cần thiết thì không thể triển khai có hiệu quả các dự án định canh định cư, phát triển kinh tế - xã hội, y tế, giáo dục. Xây dụng con người mới cả người lãnh đạo quản lý lẫn người lao động trục tiếp có đủ những năng lực cần thiết, đây là giải pháp đầu tiên và then chốt, giải pháp của những giải pháp trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa. Phải tập trung làm thay đổi các tập quán sản xuất lạc hậu, mang tính tự nhiên, tự cấp, tự túc để giúp đồng bào có đủ tri thức về kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật mới để làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội.

Tóm lại, giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên là một yêu cầu bắt buộc khi đất nước chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủcông bằng, văn minh. Để thực hiện được mục tiêu trên, không chỉ đòi hỏi nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của các bộ, ngành trung ương, mà đòi hỏi các đảng bộ, chính quyền các tỉnh ở Tây Nguyên phải tập trung công sức, trí tuệ để nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp đồng bộ mang tính khoa học, thực tiễn sớm đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.