Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 22/12/2015 20:32 (GMT+7)

Một số giải pháp xử lý ngộ độc mặn cho cây lúa

Các giống lúa chịu mặn hiện nay, thông thường chịu được độ mặn khoảng 3 - 4‰, một số giống chịu được cao hơn như: Một Bụi Đỏ chịu được độ mặn 6 ‰ này được tính là độ mặn trong đất. Do đó nếu đất ngọt mà có nước mặn xâm nhập vào cũng không ảnh hưởng đáng kể đến cây lúa nếu như không để ruộng lúa bị khô. Do vậy cần giữ mực nước ngọt 3 - 5cm trên mặt ruộng, nếu ruộng khô, nước ruộng bay hơi làm nước mặn sẽ theo các mao dẫn dâng lên, làm tăng dần độ mặn của đất dẫn tới cây lúa sẽ bị ngộ độc mặn.

Khi thấy nước có nguy cơ cạn trên ruộng lúa ở nền đất nuôi tôm, nếu không có mưa hoặc không có nước ngọt, có thể tiến hành đưa nước có độ mặn 5 - 6 ‰ vào ruộng để tránh độ mặn xâm nhập vào trong đất khi ruộng bị khô cạn, nhưng lưu ý khi đưa nước mặn vào phải đưa liên tục 2 – 3 ngày sau đó bơm ra đưa nước khác vào, vì nếu để lâu nước bốc hơi và độ mặn lại tiếp tục tăng lên gây hại cho cây lúa.

* Biểu hiện ngộ độc mặn

Có 2 triệu chứng ngộ độc mặn gây ra trên cây lúa:

- Biểu hiện trực tiếp: các độc chất Na  sẽ làm cho chóp lá bị cháy, do khi cây lúa hút nước mặn thải ra ở chóp lá sẽ đọng lại những độc chất Na (muối), dưới tác động của ánh nắng mặt trời sẽ làm cho lá lúa bị cháy từ chóp lá.

- Biểu hiện gián tiếp: Na + trong đất và nước sẽ làm cho rễ cây lúa không hút được nước, dẫn tới không hút được đạm và kali, do đó khi bị ngộ độc mặn cây lúa sẽ thiếu đạm và kali.

Vào giai đoạn lúa trỗ, quan sát thấy 2 vỏ trấu màu trắng, không có hạt do không thụ phấn được là biểu hiện cây lúa bị ngộ độc mặn.

Phòng ngừa ngộ độc mặn

- Thăm đồng thường xuyên và củng cố đê bao ngăn mặn. Vào thời điểm triều cường từ biển vào rất mạnh, nếu bờ đê giữ không tốt thì mặn sẽ xâm nhập vào, nên phải củng cố đê bao thật tốt. Nếu để ruộng khô nứt nẻ thì nước mặn sẽ xâm nhập theo những kẽ nứt nẻ đó vào ruộng lúa.

- Đối với vùng luân canh tôm - lúa, sau khi thu hoạch lúa xong, chuẩn bị nuôi tôm không để đất khô nứt nẻ quá vì như vậy nước mặn sẽ thẩm thấu dần theo các vết nứt xâm nhập lên tầng đất mặt.

- Khuyến cáo nông dân kinh nghiệm để kiểm tra độ mặn trong đất: tiến hành đào một hay vài hố trên ruộng lúa trước khi xuống giống, sau khi tháo hết nước trên ruộng, múc hết nước từ hố ra, để cho nước trong đất rỉ ra hố và dùng dụng cụ đo độ mặn để xác định độ mặn, nếu độ mặn còn 1 – 2‰ thì chưa nên xuống giống bởi vì khi hạt giống đang nảy mầm, gặp độ mặn thì mầm lúa sẽ bị quăn lại.

- Nếu đất mặn không bị phèn thì bón Ca(SO 4) 2,  ­ở đồng bằng sông Cửu Long thông thường là mặn kèm theo phèn nên tốt nhất là bón vôi nung, liều lượng 30 - 50 kg/1.000 m 2, khi làm đất bón vôi, đưa nước vào ruộng cho vôi hòa ra đẩy mặn đi sau đó tháo nước ra, rồi đo độ mặn, nếu độ mặn dưới 1‰ thì mới an toàn để tiến hành chuẩn bị cho việc gieo sạ.

- Phòng ngừa ngộ độc mặn được thực hiện ngay từ đầu vụ, vì giai đoạn mạ cây lúa rất mẫn cảm với độ mặn. Trong giai đoạn cây lúa làm đòng, trỗ nếu bị ngộ độc sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng hạt lúa, ngộ độc mặn nặng sẽ dẫn đến thất thu. Biện pháp giải độc mặn cho cây lúa giai đoạn này là có thể theo dõi triều cường đưa nước ngọt vào cứu lấy cây lúa.

* Kinh nghiệm theo dõi triều cường để đưa nước ngọt vào giải độc mặn cho cây lúa

Ở đồng bằng sông Cửu Long nước trong nội đồng là nước ngọt, khi nước ròng thì nước từ trong nội đồng đi ra biển là nước ngọt, khi triều cường dâng lên, nước từ biển đi vào nội đồng là nước mặn, nên bà con cần theo dõi đến khi nước ròng thì múc nước lên đo độ mặn, nếu độ mặn dưới 1 – 2‰ thì đưa máy bơm nước vào ruộng, khi triều cường lên lại đo độ mặn nếu độ mặn cao hơn thì ngừng đưa nước vào ruộng.

Lưu ý:  Nước mặn nặng và nằm ở tầng dưới, nước ngọt nằm ở tầng trên, nên khi bà con múc nước ở tầng trên lên đo độ mặn, mà đưa máy bơm sâu xuống lấy nước thì sẽ bơm nước có độ mặn hơn nước ở tầng trên.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Các tổ chức đối tác quốc tế của VUSTA gửi thư chúc mừng Đại hội XIV thành công tốt đẹp
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức thành công tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã nhận được thư chúc mừng từ Hiệp hội Giáo dục và Hữu nghị châu Á và Liên đoàn các tổ chức kỹ sư Myanmar.
RIC triển khai Dự án hỗ trợ người dân khắc phục sau bão số 10, 11 tại Tuyên Quang
Ngày 22-23/01, Trung tâm RIC - tổ chức KH&CN phi lợi nhuận trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam phối hợp với Tổ chức Plan International Việt Nam tổ chức cấp phát tiền mặt cho tổng số 287 hộ dân thuộc 02 xã: Lao Chải và Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang để khắc phục hậu quả thiên tai do bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơn bão số 10 và 11 năm 2025 gây ra.
Liên hiệp hội TP. Cần Thơ tổng kết hoạt động năm 2025: Khẳng định vai trò nòng cốt của đội ngũ trí thức KH&CN
Ngày 20/1, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Cần Thơ (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị là dịp đánh giá toàn diện kết quả hoạt động của Liên hiệp hội trong năm qua; đồng thời ghi nhận, tôn vinh những tập thể, cá nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố.
Lịch sử các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng khẳng định vai trò lãnh đạo, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mỗi kỳ Đại hội không chỉ là dấu mốc chính trị trọng đại của Đảng và dân tộc, mà còn ghi dấu những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên chặng đường xây dựng và phát triển đất nước.