Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 12/01/2012 20:46 (GMT+7)

Một số giải pháp quản lý Nhà nước nhằm phát triển sản phẩm tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam

Ở Việt Nam , TKNL là một chủ trương lớn, được Chính phủ hết sức quan tâm, trở thành một cuộc vận động sâu rộng và nhận được sự ủng hộ của toàn xã hội. Nhiều chính sách, biện pháp và chương trình TKNL được ban hành và đang được thực hiện một cách hiệu quả. Trên thị trường nước ta, các SPTKNL ngày càng đa dạng và phong phú, người tiêu dùng và DN có ý thức ưu tiên sử dụng các SPTKNL.

Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển các SPTKNL. Tuy nhiên, trong thời gian qua, SPTKNL chưa được sản xuất và thương mại hóa một cách rộng rãi. Những khó khăn trong phát triển sản phẩm này, trước hết, là khung khổ chính sách chưa đầy đủ và chưa thực sự khuyến khích các DN đầu tư phát triển; sự hỗ trợ từ phía Nhà nước còn hạn chế, nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng về sản phẩm than thiện môi trường còn chưa cao. Bên cạnh đó, đầu tư phát triển SPTKNL đòi hỏi nhiều vốn, trong khi các doanh nghiệp nước ta phần lớn là các DN vừa và nhỏ. Hệ thống phân phối SPTKNL còn nhỏ lẻ, phân tán. Chính vì vậy, trong thời gian tới cần có những chính sách khuyến khích hơn nữa phát triển các SPTKNL nói chung và thị trường SPTKNL nói riêng.

1.Thực trạng phát triển các sản phẩm tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam .

Các SPTKNL ngày càng khá phổ biến trên thị trường Việt Nam , bao gồm:

Nhóm SPTKNL gồm các loại thiết bị TKNL như bóng đèn tiết kiệm điện: thiết bị đun nóng nóng nước bằng năng lượng mặt trời; thiết bị tiết kiệm điện cho các kho lạnh; tiết kiệm dầu trong các lò đốt, phương tiện giao thông, tàu đánh cá; thiết bị khuếch đại ánh sáng cho các nhà máy, xí nghiệp, văn phòng, trường học và hộ gia đình; một số lò nung của nhà máy luyện kim, xi măng, gốm sứ, vật liệu xây dựng…Các sản này chủ yếu được nhập khẩu, nhiều nhất là từ Trung Quốc, như: các loại bóng đèn TKNL, máy điều hòa nhiệt độ, quạt điện, nồi cơm điện, bình đun nước, phương tiện vận tải. Các SPTKNL cũng đã được sản xuất ở trong nước, phổ biến nhất là bóng đèn TKNL compact. Theo đánh gía sơ bộ, đến cuối năm 2008, hơn 23 triệu bóng đèn compact các loại đã được tiêu thụ tại thị trường trong nước, tăng 40%/năm. So với bóng đèn tròn tiêu thụ trong nước khoảng 40trieeuj bóng/năm thì bóng đèn compact đã chiếm hơn 30% thị trường tiêu thụ. Các sản phẩm khác như máy đun nước bằng năng lượng mặt trời, một số thiết bị hàng gia dụng, các sáng kiến TKNL cho các tòa nhà, xí nghiệp, công sở… đang được triển khai nhưng còn ở dạng thí điểm, chưa phổ biến rộng trên thị trường.

Nhóm sản phẩm nhiên liệu sinh học được khuyến khích phát triển ở nước ta do nguồn nguyên liệu hết sức dồi dào. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007 phê duyệt Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025. Theo Đề án này, phát triển nhiên liệu sinh học được chia làm 4 giai đoạn. Cụ thể đến năm 2010, xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất thử nghiệm và sử dụng nhiên liệu sinh học quy mô 100.000 tấn xăng E5 và 50.000 tấn dầu diesel B5 mỗi năm, đáp ứng 0,4% nhu cầu xang dầu của cả nước (chỉ tiêu này là 1% đến năm 2015). Đến năm 2025, sản lượng ethanol và dầu sinh học phấn đấu đạt 1,8 triệu tấn, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu xăng dầu của cả nước. Theo dự báo về nhu cầu nhiên liệu sinh học, năm 2012 nhu cầu ethanol là 300 triệu lít, năm 2015 là 457 triệu lít và đến năm 2025 là 1 tỉ lít. Nhu cầu này sẽ mở ra một thị trường đầy tiềm năng cho xăng sinh học, đặc biệt là cho những DN đi tiên phong.

Để thực hiện đề án nêu trên, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam (PVN) đã đầu tư 240 triệu USD xây dựng 3 nhà máy sản xuất ethanol ở Bù Đăng, tỉnh Bình Phước (liên doanh với Tập đoàn Itochu của Nhật và Công ty Ligoci 16), Tam Nông (tỉnh Phú Thọ) và Dung Quất (Quảng Ngãi). Mỗi nhà máy có công suất 100 triệu lít/năm, sử dụng 720.000 tấn sắn lát khô và sẽ đi vào sản xuất trong năm 2011. Đến năm 2012, các nhà máy này sẽ cung cấp 240 triệu lít ethanol mỗi năm, phục vụ cho nhu cầu sản xuất xăng sinh học E5 cho thị trường cả nước. Ngoài các dự án trên, một nhà máy của công ty Đại Việt (Cư-dút, Đắc Nông) cũng đang trong quá trình vận hành thử nghiệm với công suất thiết kế là 50 triệu lít/năm.

Ngoài các loiaj sản phẩm trên, Việt nam còn có tiềm năng để phát triển các sản phẩm TKNL khác như biogas, các sản phẩm năng lượng tái sinh như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt… Tuy nhiên, các sản phẩm này chưa được phổ biến trên thị trường, hầu hết đang trong quá trình nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm.

Như vậy, Việt Nam đã có chiến lược phát triển các SPTKNL, ban hành các quy định, tiêu chuẩn đối với SPTKNL, các chính sách ưu đãi đầu tư phát triển các SPTKNL , tạo dựng cơ sở cho thị trường các SPTKNL, tuyên truyền vận động người tiêu dùng ưu tiên dùng SPTKNL…

Tuy nhiên, việc phát triển SPTKNL còn gặp một số khó khăn. Các DN sản xuất sản phẩm này chưa được ưu đãi miễn giảm thuế, một số sản phẩm chưa được khuyến khích và hỗ trợ tiêu thụ. và Chẳng hạn, mặc dù các văn bản pháp lý cho việc phát triển nhiên liệu sinh học nói chung và xăng E5 nói riêng đã được ban hành nhưng thực tế vẫn chỉ là thí điểm, chưa thực sự cho phép xăng E5 được bán bình thường đến người tiêu dùng. Nhiều loại giấy phép vẫn tồn tại đang làm khó cho việc sản xuất và tiêu thụ xăng E5. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành cũng chưa thể tạo ra một cơ chế giá hấp dẫn khuyến khích người tiêu dùng Việt Namưu tiên sử dụng xăng E5 do Việt Nam sản xuất. Công tác tuyên truyền, quảng bá về nhiên liệu sinh học và xăng E5 chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng tương tự đối với bóng đèn Led nên cả người tiêu dùng và DN chưa thực sự quan tâm do giá thành cao, khó mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, hỗ trợ từ phía Nhà nước cho hoạt động quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm còn hạn chế. Chính sách ưu đãi đầu tư cho khoa học công nghệ trong lĩnh vực TKNL vẫn còn nhiều bất cập. Một nguyên nhân khác hạn chế phát triển SPTKNL của DN là khó khăn về tài chính, nguồn nhân lực. Người tiêu dùng nước ta vẫn chưa thực sự quan tâm đến các SPTKNL do thói quen tiêu dùng và thu nhập thấp.

2.Một số giải pháp.

Để thúc đẩy phát triển thị trường các SPTKNL ở nước ta trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp ở tầm vĩ mô như sau:

Một là, có chính sách ưu đãi đầu tư phát triển sản xuất SPTKNL. Cụ thể, cần có một cơ chế ưu đãi thuế đủ mạnh để khuyến khích các DN đầu tư phát triển các SPTKNL, trước hết là đối với xăng E5 và bóng đèn Led. Về dài hạn, cần có chính sách ưu đãi về lãi suất, thuế thu nhập DN, hỗ trợ tiêu thụ đối với DN sản xuất – kinh doanh SPTKNL.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định, tiêu chuẩn về SPTKNL; hoàn thiện hệ thống quy định cấp và dán nhãn TKNL cho các sản phẩm; hệ thống các tiêu chuẩn đối với SPTKNL.

Ba là,phát triển hệ thống phân phối các SPTKNL; khuyến khích xây dựng các trung tâm, cửa hàng mua sắm sản phẩm TKNL, hình thành mạng lưới các chuỗi cửa hàng SPTKNL, các đường phố chuyên doanh SPTKNL; đa dạng hóa các hình phân phối SPTKNL.

Bốn là, đẩy mạnh xúc tiến thương mại; hỗ trợ DN quảng bá về SPTKNL trên các phương tiện thông tin đại chúng; dành kinh phí xúc tiến thương mại thuộc chương trình xúc tiến thương mại quốc gia để thường xuyên tổ chức các hội chợ triển lãm về SPTKNL; nghiên cứu thị trường về SPTKNL để xây dựng chiến lược phát triển SPTKNL; tăng cường công tác quản lý thị trường các SPTKNL…

Năm là, khuyến khích nhập khẩu SPTKNL; có chính sách ưu đãi đối với công nghệ, thiết bị, hàng tiêu dùng nhập khẩu TKNL; quản lý chặt chẽ công nghệ, sản phẩm nhập khẩu tiêu hao nhiều năng lượng.

Sáu là, khuyến khích tiêu dùng SPTKNL; khuyến khích các cơ quan nhà nước thực hiện mua sắm công các SPTKNL; tuyên truyền cho người tiêu dùng về lợi ích của SPTKNL; phát động các phong trào về tiêu dùng SPTKNL./.

Tài liệu tham khảo:

1.Thủ tướng Chính phủ, 2006, Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg ngày 14-4-2006 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn từ nay đến năm 2010.

2 . Đưa xăng sinh học ra thị trường. http://daukhi.vietnamnet. Vn/vn/tin-moi/1860/ dua-xang-sinh-hoc-ra-thi-trương.html.

3. Những cáchTKNL, http://www.khon-glocupdien.com/tu-van/55-mhung-cach-tiet-kiem-nang-luong-don-gian-phan-1. html.

4. Viện nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương: Điều tra, đánh giá về đề suất giải pháp thương mại hóa các sản phẩm than thiện môi trường Việt Nam .

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.