Một số giải pháp để thực hiện mục tiêu: Đến năm 2010, tất cả các khu công nghệ cao (CNC), khu chế xuất (KCX) có trạm xử lý nước thải tập trung
1. Tăng cường công cụ pháp lý
Một trong những công cụ quan trọng nhất để bảo đảm chất lượng môi trường tại các KCN đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép là tăng cường công cụ pháp lý. Để cụ thể hoá Luật Môi trường năm 2005, trong thời gian trước mắt, đề nghị Chính phủ ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong các KCN thay thế Quyết định số 62/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 9/8/2002 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để xử lý các doanh nghiệp không thực hiện theo đúng các cam kết về bảo vệ môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cương quyết tạm đình chỉ hoạt động nếu doanh nghiệp để tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Ngoài ra, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống các quy định chế tài pháp lý trong việc quản lý môi trường. Các cơ quan có liên quan (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường...) phải hợp tác xây dựng được hệ thống các quy định chi tiết xử phạt hành vi vi phạm bảo vệ môi trường làm cơ sở cho việc quản lý môi trường và tăng cường tính chất răn đe trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong KCN.
2.Tăng cường công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế chúng ta đang sử dụng hiện nay tại các KCN là phí nước thải . Phí nước thải ở Việt Nam là công cụ kinh tế mới được ban hành và đang được triển khai trong cả nước trên cơ sở Nghị định 67/2003/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 13/6/2003 nhằm hạn chế môi trường nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường.
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là công cụ kinh tế hiệu quả nhằm ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm tại các KCN.
Trong thời gian tới, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư hướng dẫn xác địn lưu lượng nước thải công nghiệp và công bố các đơn vị có năng lực giám định mẫu nước thải phục vụ công tác thu phí của công ty đầu tư hạ tầng KCN được rõ ràng và công bằng hơn. Mặt khác, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ tăng cường phối hợp với các ngành, đặc biệt là: Sở Tài chính, Ban quản lý các KCN và Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức giám định toàn bộ nước thải của các doanh nghiệp trong KCN để làm cơ sở định mức thu phí nước thải của các doanh nghiệp trong KCN.
Trong những năm tới, xu thế hội nhập ngày càng phát triển, đặc biệt là ta phải tuân thủ những quy chế nghiêm ngặt của AFTA, khả năng gia nhập WTO là hiện thực. Đây là cơ hội và lý do để xem xét tăng cường các loại hình công cụ kinh tế cho quản lý môi trường trong các KCN. Đơn cử như:
- Về thuế, chúng ta nên hình thành một số loại thuế môi trường, có thể tính vào thuế xả thải hay thuế đánh vào đầu sản phẩm.
- Giấy phép thải có thể chuyển nhượng: đây là loại công cụ kinh tế rất linh hoạt và mềm dẻo, phù hợp cho việc quản lý những dạng thải khó đo lường và kiểm soát, nhưng lại phù hợp với cơ chế thị trường có tính hoàn hảo. Hiện nay, với sự ra đời của Nghị định thư Kyoto công cụ này đang có xu hướng phát huy tác dụng, chúng ta cũng nên có hướng cụ thể để áp dụng ở các KCN.
- Nhãn môi trường: đây là loại công cụ có ý nghĩa cho người tiêu dùng và hình ảnh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu hàng hoá. Chúng ta nên xây dựng và ban hành cơ chế để một số mặt hàng xuất khẩu cũng như tiêu thụ nội địa của Việt Nam được dán nhãn môi trường.
- Các cơ chế tài chính khác: Ngoài các cơ chế tài chính đã có, nên mở rộng cơ chế tài chính cho lĩnh vực quản lý môi trường trong các KCN. Chẳng hạn tạo cơ chế tài chính nhằm khuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp có năng lực và khả năng phối hợp với công ty đầu tư cơ sở hạ tầng KCN tham gia vào các dịch vụ môi trường như rác thải, nước thải, quan trắc môi trường ...Cơ chế thưởng phạt về làm lợi cho môi trường hay gây thiệt hại cho môi trường nên được tiếp tục phát huy.
Ngoài ra, đối với những công cụ kinh tế chúng ta đã và đang sử dụng, nên có sự rà soát lại về tính hiệu quả của chúng để có những sự điều chỉnh và bổ sung kịp thời.
3. Tăng cường năng lực quản lý
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, trong thời gian tới cần giao trách nhiệm cho Ban quản lý các KCN cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý môi trường tại các KCN. Cần thành lập Phòng Quản lý môi trường trong bộ máy hoạt động của Ban và bố trí đủ biên chế để thực hiện tốt công tác quản lý môi trường trong các KCN.
Các Ban quản lý KCN cấp tỉnh có trách nhiệm:
- Lập dự báo cáo các sự cố môi trường trong KCN, xây dựng kế hoạch phòng chống sự cố và các biện pháp khắc phục sự cố trình UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt.
- Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải cho KCN.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, thanh, kiểm tra các KCN thuộc quyền quản lý của mình tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường.
- Các công ty đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong KCN và báo cáo kịp thời cho Ban quản lý KCN cấp tỉnh biết về hành vi vi phạm của các doanh nghiệp đó.
4. Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp trong KCN
Sở Tài nguyên và Môi trường cần thường xuyên phối hợp với Ban quản lý KCN và các ban ngành, các đơn vị có liên quan tổ chức các lớp tập huấn phổ biến các quy định của pháp luật về môi trường, đặc biệt là các văn bản dưới Luật để thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tổ chức các cuộc Hội thảo nhằm giới thiệu cho các Ban quản lý KCN cấp tỉnh, các công ty đầu tư cơ sở hạ tầng KCN, các đơn vị có năng lực xây dựng các Trạm nước thải tập trung, để có các cuộc đối thoại, trao đổi nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị có đủ năng lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng, điều hành trạm nước thải tập trung được tham gia hoặc cộng tác với các công ty đầu tư cơ sở hạ tầng trong việc xây dựng các Trạm nước thải tập trung tại các KCN.
Mặt khác, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ xây dựng một hệ thống thông tin (trên cơ sở trang Web: www.khucongnghiep.com.vn), cơ sở dữ liệu đồng bộ thống nhất, có liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý KCN với các KCN của cả nước, thường xuyên thông tin về tình hình bảo vệ môi trường tại các KCN, công bố các đơn vị có đủ năng lực và kinh nghiệm xây dựng Trạm nước thải công nghiệp để các KCN có điều kiện tiếp cận, phối hợp trong việc xây dựng hệ thống nước thải tập trung tại các KCN trong cả nước.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan khoa học tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ xử lý nước thải cho các KCN.
Hằng năm, Ban quản lý KCN cấp tỉnh phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành đánh giá công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, kịp thời đề nghị khen thưởng, các doanh nghiệp, cá nhân có thành tích tốt trong công tác bảo vệ môi trường.
5. Hỗ trợ đầu tư xây dựng Trạm xử lý nước thải tập trung
Để có đủ vốn xây dựng các Trạm nước thải tập trung, trong thời gian tới cần phải tiến hành đồng thời các công tác sau:
a. Hỗ trợ về tài chính cho việc xây dựng các công trình xử lý nước thải tập trung đối với các KCN ở các địa phương được hưởng theo Quyết định 183/2003/QĐ-TTg:
- Hướng dẫn các Ban quản lý, Công ty đầu tư cơ sở hạ tầng KCN tiến hành các bước thủ tục để xây dựng Trạm nước thải tập trung:
+ Giới thiệu các công ty tư vấn có kinh nghiệm và năng lực xây dựng thiết kế kỹ thuật Trạm nước thải tập trung.
+ Giới thiệu các đơn vị có kinh nghiệm và năng lực trong việc xây dựng Trạm nước thải tập trung để tổ chức đấu thầu chọn lựa đơn vị thi công.
+ Đối với các KCN ở các địa phương thực sự khó khăn về điều kiện kinh tế như (Tây Nguyên và miền Tây Nam Bộ) thì cần hỗ trợ của nguồn vốn xây dựng hệ thống thu nước thải từ các doanh nghiệp trong KCN.
- Bố trí kịp thời và đủ nguồn vốn để xây dựng Trạm nước thải tập trung tại các KCN.
b. Hỗ trợ đầu tư về vốn vay:
Để tạo điều kiện tốt cho các công ty đầu tư cơ sở hạ tầng (doanh nghiệp trong nước) được dễ dàng tiếp cận nguồn vốn quỹ đầu tư phát triển, trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài Chính cần hướng dẫn các Ban quản lý, công ty đầu tư cơ sở hạ tầng KCN tiến hành các bước thủ tục vay vốn để xây dựng Trạm nước thải tập trung.
Ngoài các nguồn vốn nêu trên, trong thời gian tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan, vận động các nguồn vốn khác để hỗ trợ cho các công ty đầu tư cơ sở hạ tầng KCN có đủ vốn để xây dựng công trình Trạm nước thải tập trung.
Một số kiến nghị
Để thực hiện thành công những giải pháp nêu trên, nhóm nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị cơ bản sau:
Một là,trong công tác xây dựng quy hoạch KCN, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập quy hoạch xây dựng KCN cũng như thoả thuận quy hoạch chi tiết KCN cần phải quan tâm thích đáng tới yếu tố môi trường trong KCN. Cần đảm bảo khoảng cách tương đối giữa KCN với đường giao thông và dân cư xung quanh để hạn chế tối đa ảnh hưởng về môi trường trong KCN ra khu vực lân cận. Khi KCN được thành lập, việc triển khai xây dựng phải tuân thủ chặt chẽ quy hoạch đã được duyệt. Thu hút đầu tư vào KCN cần được tiến hành theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương. Những dự án có cùng ngành nghề và gây ô nhiễm cao nên được bố trí vào một KCN để thuận tiện cho công tác xử lý chất thải.
Hai là,cần nâng cao chất lượng công tác thẩm định thành lập KCN , đặc biệt là thẩm định về yếu tố môi trường. Hồ sơ dự án khả thi cần phải đánh giá được tổng lượng khí thải, nước thải, rác thải và chất thải nguy hại do các doanh nghiệp trong KCN thải ra và mức độ ô nhiễm môi trường trong KCN, từ đó, có phương án đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải với quy mô, chất lượng xử lý đạt yêu cầu, đồng thời luận chứng cụ thể về vốn đầu tư và phương án huy động vốn để xây dựng các công trinh xử lý chất thải này.
Ba là,có những chế tài có tính bắt buộc cao đối với chủ đầu tư trong việc xây dựng các công trình xử lý chất thải tập trung trong KCN. Có thể đưa vấn đề xây dựng công trình xử lý chất thải tập trung là một trong những điều kiện khi thực hiện các ưu đãi về thuế, đất đai... cho chủ đầu tư cơ sở hạ tầng KCN theo quy định, hoặc là điều kiện tiên quyết để xem xét việc mở rộng các KCN hiện có.
Bốn là,bên cạnh việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư, cần có những quy định cụ thể về giám sát các dự án đầu tư nói chung và việc công tác bảo vệ môi trường trong KCN nói riêng. Để bảo đảm hiệu quả của công tác giám sát, cần quy định cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của cơ quan giám sát khi thực hiện chức năng giám sát môi trường, đồng thời cần có quy định về những ưu đãi, khen thưởng, xử phạt đối với các doanh nghiệp trong thực hiện các nghĩa vụ bảo vệ môi trường.
Năm là,cần có những biện pháp hỗ trợ về tài chính cho việc xây dựng các công trình xử lý nước thải tập trung đối với các địa phương không đủ điều kiện hỗ trợ vốn ngân sách trung ương cho công trinh xử lý nước thải tập trung và đền bù giải phóng mặt bằng KCN theo Quyết định 183/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Có thể xem xét cho vay từ quỹ tín dụng đầu tư phát triển với lãi suất ưu đãi đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung trong KCN, hoặc có thể nghiên cứu cơ chế ưu đãi đối với các dự án đầu tư KCN hoàn thành hệ thống xử lý chất thải đạt yêu cầu trước khi thu hút đầu tư...
Sáu là,nhanh chóng xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể Luật Bảo vệ môi trường mới. Do tính chất cấp bách của vấn đề môi trường trong KCN và tính tập trung và đa dạng ngành nghề của KCN, cần nghiên cứu việc xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cáccơ chế, chính sách bảo vệ môi trường và xử lý chất thải trong KCN, trong đó đề cập tới: cơ chế hỗ trợ tài chính, huy động nguồn vốn tài chính từ khu vực tư nhân để xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường trong KCN, xây dựng một đầu mối trong quản lý KCN trong đó có quản lý môi trường trong KCN , thành lập đơn vị giám sát môi trường đặt tại mỗi KCN; quy trình và công nghệ, tiêu chuẩn xử lý các loại chất thải rắn, lỏng, khí mà các doanh nghiệp phải tuân thủ...
Bảy là,về phía chủ đầu tư và các doanh nghiệp trong KCN cần phải ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối vấn đề bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN, chủ động tìm giải pháp thoả đáng và giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích-chi phí để đầu tư hệ thống xử lý chất thải tập trung và cho riêng từng doanh nghiệp trong KCN. Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN có thể liên kết với các doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực xử lý môi trường cùng tham gia đầu tư hệ thống xử lý chất thải trong KCN và thu phí xử lý nước thải của các doanh nghiệp KCN (nằm trong hoặc tách riêng với phí sử dụng hạ tầng).
Theo: Nguồn: KCNVN/ moi.gov.vn(31-01-07)








