Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 31/08/2011 19:07 (GMT+7)

Một số đóng góp quan trọng của phật giáo Thời Đinh - Tiền Lê cho đất nước

Thời Tiền Lê, năm 987, sứ giả nhà Tống là Lý Giác đi thuyền đến sông Sách Giang (sông chảy qua Nam Sách), Vua Lê Đại Hành sai sư Đỗ Pháp Thuận thay đổi quần áo giả là người cai quản bến đò để xem xét hành động của Lý Giác. Lý Giác là người thích nói chuyện thơ văn, lúc qua sông thấy hai con ngỗng đang bơi giữa sông, Lý Giác ngâm đùa hai câu:

“Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nga”

(Ngỗng hai con ngỗng

Ngửa mặt nhìn chân trời)

Sư Pháp Thuận đang cầm chèo, theo vần đọc tiếp thêm hai câu:

“Bạch mao phổ lục thuỷ

Hồng trạo bãi thanh ba”

(Nước xanh phô lông trắng

Chèo hồng sóng xanh bơi)

Lý Giác thấy vậy lấy làm thán phục, cho rằng hai câu thơ của Đỗ Pháp Thuận là tuyệt cú.

Vì cả bốn câu ghép lại thành một bài thơ tư tuyệt rất hay.Riêng hai câu thơ của Đỗ Pháp Thuận đã thể hiện lối chơi ch, chữ “hồng” có nghĩa là ngỗng trời, nhưng cũng là màu hồng, chữ “bạch” là trắng, “lục thuỷ”và “ thanh ba”là nước xanh, sóng xanh. Hai câu thơ đó lại có đày màu sắc: trắng, hồng, xanh.

Khi về đến sứ quán, Lỳ Giác còn làm một bài thơ gửi tặng sư Đỗ Pháp Thuận như sau:

Hạnh ngộ minh thì tán thịnh du,

Nhất thân nhị độ sứ Giao Châu.

Đông Đô lưỡng biệt tâm lưu luyến,

NamViệt thiên trùng vọng vị hưu.

Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch,

Xa ừ thanh chướng phiếm trường lưu.

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,

Khê đàm ba tĩnh kiến thiềm thu”.

(May được thời bình được giúp mưu,

Một mình hai lượt sứ Giao Châu.

Đông đô mấy bận còn lưu luyến,

Nam Việt nghìn trùng vẫn ước cầu.

Ngựa vượt khói mây xuyên đá chởm,

Xe qua rừng biếc vượt dòng sâu.

Ngoài trời lại có trời soi nữa,

Sóng lặng khe đầm bóng nguyệt thâu)

Đỗ Pháp Thuận đem bài thơ này dâng Vua Lê Đại Hành xem. Vua Lê Đại Hành cho gọi thiền sư Ngô Châu Lưu đếm xem nữa. Xem xong bài thơ của Lý Giác, Ngô Chân Lưu tâu rằng, sứ giả nhà Tống viét bài thơ này có ý tôn trọng bệ hạ không khác gì Vua Tống và nói rằng ngoài bầu trời của thiên triều (Trung Quốc) lại có bầu trời khác (chỉ nước ta) cũng soi sáng rực rỡ. Vua Lê Đại Hành khen thơ của Lý Giác hay và ban thưởng cho Lý Giác rất hậu.

Như thế các nhà sư đã trở thành các nhà ngoại giao quan trọng của triều đình, thay mặt triều đình tiếp sứ Tống làm cho sứ Tống phải kính nể con người của nước Đại Cổ Việt. Cũng có thể suy rộng ra, các nhà sư đó đóng vai như Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao mà ngày nay chúng ta vẫn gọi. Điều đó chứng tỏ Phật giáo thời Tiền Lê đã đóng góp quan trọng trong công tác ngoại giao.

Chính vì thế, nhà sử học Phan Huy Chú đã nhạn xét:

Nhà Tiền Lê tiếp đãi sứ nhà Tống, tình ý và văn thơ rất là chu đáo. Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài mà quốc thể được thêm tôn trọng, làm cho người Bắc phải khuất phục. Sau này mối khi sứ Trung Quốc về nước đều có đưa thơ tiễn Tống để khoa trương văn hoá, bắt đầu thực là tự đây”.

Phải chăng, Vua Lê Đại Hành đã là người đầu tiên thể hiện quan điểm ngoại giao với nước ngoài, phải đề cao vị trí của đất nước mình. Điều đó thể hiện tinh thần tự hào dân tộc mà công lao đều là do các nhà sư, tức là do Phật giáo.

Dận tộc ta, đầu tiên có chữ viết là chữ Hán (chữ Trung Quốc). Trước thời Đinh, đã có những bài văn, bài thơ viết bằng chữ Hán nhưng chưa dài và nhuần nhuyễn.Ngô Quyền từ năm 938 đã có bài “’Dự đại phá Hoằng Thao chi kế” (Bày kế hoạch đánh tan quân Hoằng Thao). Nhưng đây chỉ là bài ghi lại lời nói không thể coi là bài văn viết. Đến năm 979, sau khi giết em là Hoàng Thái Tử Đinh Hạng Lang, ân hận và đau khổ, Đinh Liễn đã cho làm 100 toà kinh Phật bằng đá hình bát giác, khắc đầy bài kinh bằng chữ Hán gồm 3 phần: lạc khoản, kệ và kinh Đà La Ni. Sau đó đến đời Vua Lê Đại Hành, năm 987, sư Đỗ Pháp Thuận đã làm thơ đối đáp với sứ Tống Lý Giác (như đã nêu ở phần trên), đặc biệt bài từ của Ngô Chân Lưu làm để tiễn Lý Giác:

“Tường quang phong cảnh hảo cầm hàm trương,

Dao vọng thần tiên phục đế hương.

Vạn trùng sơn thuỷ thiệp thương lang,

Cửu thiên quy lộ trường.

Tình thảm thiết,

Đối ly trường,

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị biên cương,

Phân minh tấu ngã Hoàng”

(Nắng tươi gió thuận cánh buồm giương,

Thiền tiên lại đế hương.

Vượt sóng xanh muôn dặm trùng dương,

Về trời xa đường thường.

Tình thắm thiết,

Chén lên đường,

Vin xe sứ vấn vương.Xin đem thâm ý vì Nam cương,

Tâu vua tôi tỏ tường)

(Hà Văn Tấn dịch)

Đây là một bài từ làm theo thể “ Từ” của Trung Quốc, là thể văn có vần điệu, rất thịnh ở thời Tống. Đó là một thể thơ phối hợp với nhạc để hát, nên các câu có thể dài ngắn khác nhau.

Bài từ của Ngô Chân Lưu tiễn Lý Giác, được coi là bài từ cổ nhất hiện còn trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam .

Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” đánh giá bài từ này là: “Khúc hát hay, cũng đủ khoe có nhân tài, mà quốc thể được thêm tôn trọng, làm cho người Bắc (Trung Quốc) phải khuất phục”.

Bài từ của Ngô Chân Lưu có thể coi là một tác phẩm thơ mở đầu cho truyền thống thơ văn ngoại giao của Việt Nam , có giá trị đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc.

Cùng với thiền sư Đỗ Pháp Thuận, thiền sư Ngô Chân Lưu đã góp phần “Kể từ Đinh Lê dựng nước, đối địch với Trung Hoa, mệnh lệnh từ chương dần dần rõ nét” đó là nhận định của của Phan Huy Chú trong “ Lịch triều hiến chương loại chí”.

Điều đó chứng tỏ các nhà sư đã là những trí thức tài năng, góp phần, có công mở đầu cho văn học viết của đất nước ta. Không có các nhà sư, không có Phật giáo, thì làm sao có được các áng thơ văn viết như thế còn tồn tại đến ngày nay. Chính Phật giáo đã góp phần đặt nền móng cho văn học viết Việt Nam phát triển.

Như thế, có thể nói vặn học viết Việt Nam ra đời từ Phật giáo ở thời Đinh và Tiền Lê.

“Lịch triều hiến chương loại chí” Tập III- (Sđd) Trang 252

Đóng góp quan trọng thứ hai của Phật giáo thời Đinh - Tiền Lê là nhờ có các cột kinh Phật, thư pháp đá đã hình thành, cũng thể hiện nghề chạm khắc đá ở Ninh Bình đã có từ lâu đời.

Ông cha ta đã cho khắc chữ Hán trên đá từ lâu. Trong kho tàng văn bia Việt Nam, mới phát hiện ơ Đông Sơn (Thanh Hoá) một bia đá có niên đại vào năm 618, chạm khắc một ít chứ Hán.

Đến thời nhà Đinh, đạo Phật phát triển mạnh, không chỉ người dân theo đạo Phật mà các Vua, Hoàng tử cũng rất tin vào đạo Phật, muốn làm nhiều điều thiện, tránh làm điều ác. Mùa xuân năm 979, Nam Việt Vương Đinh Liễn la` con trai cả vua Đinh Tiên Hoàng, thấy mình đã chịu nhiều gian khổ, lại có nhiều công lao, không được Vua cha phong làm Thái Tử, nên bực tức, bất bình cho người ngầm giết Hoàng Thái Tử Hạng Lang là em của mình. Sau khi giết em, ân hận và đau khổ, Đinh Liễn bèn cho làm 100 toà kinh Phật bằng đá, hình bát giác dựng bên bờ sông Hoàng Long, bên ngoài Kinh đô Hoa Lư để cầu cho llinh hồn Hạng Lang được siêu thoát, cũng là cầu xin đức Phật tha thứ cho việc làm ác của mình.

Trên các cột kinh Phật đều khắc đầy bài kinh bằng chữ Hán gồm 3 phần: lạc khoản, kệ và kinh Đà La Ni. Hiện nay, chúng ta đã phát hiện được gần 40 cột trong tổng số 100 cột kinh Phật đó.

Như thế, thời nhà Đinh, việc chạm khắc chứ Hán trên đá đã phát triển mạnh, mà những chữ Hán đó lại là kinh Phật. Điều đó thể hiện đạo Phật đã góp phần hình thành bước đầu tiên thư pháp đá ở việt Nam, có từ thời nhà Đinh.

Sang thời Tiền Lê, Vua Lê Đại Hành đã cho khắc chạm một cột kinh Phật đá lớn hơn nhiều so với các cột kinh Phật Đinh Tiên Liễn đã cho tạc. Cột kinh Phật đá của Vua Lê Đại Hành có chiều cao tính từ đá đễn chóp là 4,16 m, gồm 6 bộ phận đã được gá lắp thành. Thân cột cũng hình bát giác (8 cạnh) được chạm khắc khoảng 2.500 chữ Hán là kinh Đà La Ni, Thủ Lăng Nghiêm và bài thần chú ca ngợi sự bền vững của đức hạnh Phật. Cột kinh này được làm vào năm ứng Thiên thứ 2, tức năm 995, hiện còn dựng ở chùa Nhất Trụ thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ngày nay

Như vậy có nghĩa là từ thế kỷ thứ X ở Ninh Bình đã có nghề chạm khắc chữ Hán trên đá và hình thành một thư pháp trên đá, cách ngày nay trên một nghìn năm.Đây là sự hoá thân của thiên nhiên vào cuộc sống trong môi trường sinh hoạt văn hoá của con người, trước hết đã có ở nơi của Phật.

Nếu không có đạo Phật , không có các kinh Phật thì làm sao có các cột kinh Phật đá đó đã hình thành một thư pháp đá đầu tiên của dân tộc.

Thư pháp đá có nghĩa là chạm khắc chứ Hán trên đá, là loại hình nghệ thuật tinh vi và điêu luyện thể hiện tài năng của các nghệ nhân thời xưa.

Chạm khắc chữ trên gỗ đã là khó. Huống chi đây lại là đá. Đá rắn, cứng giòn, dễ vỡ nên khăc càng khó hơn nhiều. Người khắc chữ phải thận trọng, tỉ mỉ từng nét chữ nhỏ, đục nhẹ nhàng và chuẩn xác đến từng li, làm sao cho chữ phải đúng và đẹp. Mọi chi tiết nhỏ của nét chữ đã khắc là xong, không thể xoá đi làm lại được. Nếu không có bàn tay nghệ thuật của các nghệ nhân tài hoa thì không thể khắc chữ Hán được. Qua đó, chúng ta cũng thấy được , nhờ có đạo Phật mà nghề chạm khắc đá ở thời đó đã phát triển mạnh, để sau này chúng ta mới có một long sàng đá độc nhất vô nhị đặt ở trước đền Đinh, một nàh thờ đá Phát Diệm nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới.

Các cột kinh Phật đá đó là chứng tích thể hiện tài năng, sáng tạo, kỹ thuật tinh xảo, điêu luyện và sức lao động bền bỉ, kiên nhẫn của ông cha ta thời xưa, lưu truyền trường tồn cho các thế hệ mai sau, giữ hộ chúng ta bao điều sáng chói diệ kỳ, cần phải lưu giữ bảo tồn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.