Một số bệnh thường gặp ở trâu, bò trong vụ xuân hè
Tụ huyết trùng
Bệnh do vi rút tụ huyết trùng có nhiều týp khác nhau gây nên. Trâu, bò nhiễm vi khuẩn do tiếp xúc giữa trâu, bò bệnh và trâu, bò khoẻ; do ăn phải rơm cỏ hoặc nước uống có vi khuẩn. Vi khuẩn xâm nhập qua niêm mạc đường hô hấp và tiêu hoá của trâu, bò, phát triển nhanh trong hệ thống hạch lâm ba, rồi vào máu và gây bệnh. Thời gian ủ bệnh từ 12 đến 48 giờ. Trâu, bò phát bệnh rất nhanh, thường mệt nhọc, rồi đột ngột sốt cao (40-42°C), nằm bệt một chỗ, thở rất khó khăn, chảy dịch mũi và nước dãi. Dùng phác đồ điều trị sau:
Thuốc điều trị: Streptomycin loại bột tiêm 1g/lọ; dùng liều 20mg/kg trọng lượng trâu, bò. Thí dụ: điều trị cho một trâu, nặng 300kg phải dùng 6 lọ Streptomycin 1g. Thuốc pha với nước cất, chia làm 2-3 lần tiêm trong ngày.
Sulfathiazone hoặc Sulfamerazine dùng liều 20-25mg cho 1kg thể trọng. Loại thuốc này đã pha thành dung dịch tiêm bán ở các cửa hàng thú y. Nếu không có thuốc tiêm, cho súc vật uống loại viên, nhưng liều phải tăng (30-35mg/kg thể trọng), cho uống làm 2 lần.
Thuốc trợ sức và trợ tim mạch: Tiêm kết hợp caphein và các vitamin B1, C theo liều chỉ định. Cần truyền dung dịch nước muối sinh lý và nước đường đẳng trương cho súc vật bệnh: 1-2 lít/1 trâu, bò/ngày khi chúng không ăn được.
Ỉa chảy
Bệnh thường xảy ra khi mưa phùn ẩm ướt, rơm cỏ và nguồn nước bị nhiễm bẩn. Bê, nghé non bị bệnh nhiều hơn trâu, bò trưởng thành. Tác nhân gây bệnh: Do bê, nghé bị nhiễm vi khuẩn thương hàn, vi khuẩn đại tràng E.coly và các vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá khác qua thức ăn, nước uống bị ô nhiễm.
Thời gian ủ bệnh từ 1 đến 3 ngày. Bê, nghé sốt nhẹ giai đoạn đầu (39-40°C), sau đó mệt mỏi, ăn kém, uống nước nhiều và ỉa phân lỏng có màu xám vàng hoặc xám xanh, mùi tanh khó chịu. Tỷ lệ bê, nghé chết tới 30-40% nếu không được điều trị kịp thời. Cần phát hiện sớm và điều trị bằng một trong hai phác đồ sau:
Phác đồ 1
Thuốc điều trị : Dùng phối hợp Kanamycine dạng bột 1g/lọ theo tỷ lệ 20mg/kg thể trọng, pha nước cất tiêm cho bê, nghé; tiêm 2 lần/ngày, phối hợp với Biseptone dạng viên 0,48g/viên theo liều 30mg/kg thể trọng, pha nước cho bê nghé uống, 2 lần/ngày.
Thuốc chữa triệu chứng : Tiêm Atropin theo liều: 1ml/15-20kg thể trọng bê, nghé để giảm co thắt ruột và giảm ỉa chảy. Có thể kết hợp cho uống nước lá ổi, lá phèn đen, ngày 1-2 lần.
Thuốc trợ sức và trợ tim mạch : Trợ tim mạch dùng caphêin hoặc long não nước, kết hợp với vitamin B1, C tiêm cho bê, nghé. Các trường hợp bị nặng cần truyền dung dịch nước đường đẳng trương hoặc nước sinh lý 9‰ vào tĩnh mạch cho bê, nghé theo liều 0,5-0,8 lít/bê, nghé.
Phác đồ 2
Thuốc điều trị: Dùng Chloram phenicol dạng bột hoặc dạng đã pha thành dung dịch cho bê, nghé, tiêm theo tỷ lệ 20mg/kg thể trọng. Nếu uống, pha theo tỷ lệ 35 mg/kg thể trọng; phối hợp với Biseptone như phác đồ 1. Thuốc chữa triệu chứng và thuốc trợ sức, trợ tim mạch. Dùng như phác đồ 1.
Biện pháp phòng bệnh: Đảm bảo cho bê, nghé thức ăn, nước uống sạch, thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường.
Nguồn: Kinh tế V.A.C, số 20, 15/5/2006, tr 12








