Một số bệnh thường gặp ở tôm
Biện pháp phòng bệnh tổng hợp
Nguyên nhân chủ yếu khiến tôm mắc bệnh là do môi trường bị ô nhiễm, mầm bệnh nhiều, sức đề kháng yếu. Để phòng bệnh cho tôm cần:
Đảm bảo môi trường:
- Chọn địa điểm và nguồn nước tốt.
- Thiết kế xây dựng ao đúng kỹ thuật.
- Chuẩn bị ao vuông kỹ trước khi thả nuôi.
Hạn chế mầm bệnh trong ao nuôi:
- Nạo vét bùn đáy và vệ sinh kỹ bằng vôi, Chlorine trước khi nuôi.
- Không cho ăn thức ăn thiu thối, dơ bẩn.
- Chỉ thay nước cho ao nuôi khi có nguồn nước tốt.
- Dùng Chlorine 10 – 30 ppm (phần nghìn) xử lý nước trước khi lấy vào ao nuôi tôm.
Tăng cường sức đề kháng cho tôm:
- Chọn giống không mang mầm bệnh.
- Thuần dưỡng tôm giống trước khi thả nuôi.
- Thả tôm đúng kỹ thuật.
- Không làm khuấy động, sốc tôm khi nuôi.
- Thức ăn cho tôm phải đảm bảo số lượng và chất lượng.
Một số bệnh thường gặp
Bệnh do vi khuẩn
- Bệnh phát sáng:
Trong ương giống, bệnh thường xuất hiện ở môi trường nước giàu dinh dưỡng. Trong sản xuất, mầm bệnh lây lan chủ yếu từ ruột tôm mẹ cho ấu trùng trong giai đoạn sinh sản.
Triệu chứng: Tôm nhiễm bệnh bị yếu và có màu trắng đục. Tôm sắp chết thường nổi lên mặt nước hay ven mé. Tôm nhiễm nặng sẽ phát sáng trong đêm, bỏ ăn, lắng xuống đáy bể thành một thảm sáng xanh, chết hàng loạt và chết nhanh từ 80 đến 100%.
Phòng và trị bệnh: Vệ sinh bể ương và dụng cụ, xử lý nước bằng EDTA 2 – 5 ppm; xử lý tảo nuôi bằng Oxytetracylin 30 – 50 ppm; xử lý trứng Artemia bằng Chlorine 30 – 50 ppm trong 1 giờ.
- Bệnh Vibrio
Triệu chứng: Tôm nhiễm bệnh bơi lội mất phương hướng, đôi lúc lờ đờ. Vỏ, châu râu và mang bị nhiễm khuẩn, có màu đen đỏ hay đỏ nâu, vỏ bị ăn mòn, cơ có màu trắng đục. Ấu trùng tôm bị nhiễm bệnh có màu đen trên đỉnh các phụ bộ chân râu, bỏ ăn, dẫy, ruột rỗng. Chết dần, đôi khi đến 100%.
Phòng và trị bệnh: Vệ sinh kỹ bể ương và ao nuôi, chăm sóc và quản lý tốt. Hạn chế gây sốc, thương tích cho tôm. Trị bệnh cho ấu trùng và postlarvae bằng cách dùng formol 10 – 12 ppm, oxytetracylin 1 – 10 ppm, furajolidon 1 ppm, xử lý 14 ngày liên tục. Trị bệnh cho tôm lớn bằng trộn 0,5g nitrofurajo /kg thức ăn, cho ăn trong 1 ngày liên tục.
- Bệnh đốm nâu, đốm đen
Triệu chứng: Vỏ giáp, phụ bộ và mang có những đốm hay mảng nâu đen xuất hiện. Dưới vỏ xuất hiện vết phồng chứa dịch keo nhờn. Bệnh nặng vỏ bị ăn mòn, lở loét đến lớp dưới biểu bì. Các phụ bộ như râu, chuỷ cũng bị ăn mòn và có vết đen ở ngọn. Tôm bị bệnh thường kém ăn, lờ đờ, mất thăng bằng trong điều hoà áp suất thẩm thấu, khó lột xác và bị dính vào vỏ cũ khi lột.
Phòng và trị bệnh: Giữ môi trường tốt, đầy đủ chất dinh dưỡng, tránh gây sốc, thương tích cho tôm, tránh nuôi mật độ quá dày. Có thể dùng kháng sinh như điều trị bệnh Vibrio.
Bệnh do virút
- Bệnh MBV
Triệu chứng: Tôm nhiễm bệnh giảm ăn, chậm phát triển, mang và cơ có nhiều sinh vật bám. Quan sát ruột giữa thấy 1 đường trắng dọc cơ thể. Gan, tuỵ teo lại, có màu vàng, rất tanh. Tôm chết dần sau 3 – 5 ngày, từ 80 đến 100%.
Phòng và trị bệnh: Chọn giống khoẻ, không bị nhiễm bệnh, vệ sinh chăm sóc tốt, loại bỏ tôm bệnh.
- Bệnh đầu vàng
Triệu chứng: Tôm 50 – 70 ngày tuổi tự nhiên ăn nhiều một cách khác thường, sau đó ngừng ăn đột ngột. Sau 1 – 2 ngày, tôm bắt đầu lờ đờ trên mặt nước và ven bờ rồi chết. Phần đầu ngực, nhất là gan, tuỵ chuyển màu vàng và sưng. Gan có màu trắng nhạt hay vàng đến nâu. Thân màu nhạt, tôm nhiễm bệnh nặng chết hàng loạt.
Phòng và trị bệnh bằng cách chọn giống tốt. Vệ sinh tẩy trùng ao và nước thật kỹ bằng chlorine 30ppm trước khi thả nuôi. Hạn chế thay nước.
- Bệnh đốm trắng (WSBV)
Triệu chứng: Tôm bệnh cấp tính giảm ăn lạ thường, lờ đờ, có nhiều đốm trắng cỡ 0,5 – 2 mm xuất hiện bên trong vỏ, nhất là vỏ đầu ngực.
Phòng và trị bệnh: Chọn giống tốt, vệ sinh tẩy trùng ao và nước thật kỹ bằng chlorine 30ppm trước khi thả nuôi. Quản lý ao nuôi tốt, thu hoạch ngay sau khi phát hiện tôm bị bệnh.








