Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/07/2010 23:18 (GMT+7)

Mối quan hệ giữa an ninh môi trường và an ninh quốc gia

Một số vấn đề chung về mối quan hệ giữa an ninh môi trường và an ninh quốc gia

Quan hệ giữa an ninh quốc gia và an ninh môi trường có tính chất hữu cơ chặt chẽ bởi vì về thực chất an ninh môi trường là một bộ phận cấu thành an ninh quốc gia bên cạnh an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa… Tùy bối cảnh của từng nước và tùy từng giai đoạn phát triển của lịch sử, vị trí và vai trò của an ninh môi trường trong an ninh quốc gia có thay đổi. Nhưng nhìn chung ở thế giới và ở Việt Nam , vị trí và vai trò an ninh môi trường ngày càng quan trọng.

Ngay từ năm 1992, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã chỉ ra "nguồn gốc của sự bất ổn về kinh tế, xã hội, nhân văn và sinh thái đã trở thành mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định". Theo số liệu của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), năm 1996, trên thế giới có khoảng 25 triệu người tị nạn do môi trường và con số này lên đến ít nhất là 50 triệu trong những năm đầu thế kỷ 21 và chính Liên hợp quốc đã khởi xướng nhiều chương trình bảo vệ môi trường cấp độ toàn cầu mà gần đây nhất là vấn đề biến đổi khí hậu.

Một trong những xu thế phát triển từ lĩnh vực chuyên môn chuyển sang chính trị chính là từ các trào lưu bảo vệ môi trường chuyển thành đảng phái chính trị. Các đảng xanh được phát triển từ các phong trào xanh ngày càng tranh thủ được cử tri và chiếm lĩnh các vị trí lãnh đạo chính quyền, đặc biệt tại các nước Bắc Âu và Bắc Mỹ.

Mỹ là một trong những nước đầu tiên thay đổi quan điểm về an ninh quốc gia cách đây 20 năm, Chính phủ Mỹ đã thừa nhận an ninh sinh thái là một bộ phận cấu thành an ninh quốc gia. Từ năm 1994 Chính phủ Mỹ đã đưa an ninh sinh thái thành một bộ phận của an ninh quốc gia, coi vấn đề môi trường ảnh hưởng lâu dài tới lợi ích quốc gia, đe dọa trực tiếp sức khỏe, sự thịnh vượng, việc làm, sự ổn định chính trị, kinh tế và mục tiêu chiến lược của Mỹ. Chính vì vậy mà chính phủ Mỹ, một mặt đóng cửa khai thác các giếng dầu trên thềm lục địa của Mỹ, mặt khác tìm mọi cách gây ảnh hưởng và chi phối đến các khu vực khai thác dầu trên thế giới, đặc biệt là Trung Đông, mặc dù giá dầu biến động, leo thang tác động rất lớn đến đời sống của người dân Mỹ.

Khác với các lĩnh vực khác, môi trường không có biên giới và ô nhiễm môi trường cũng không có biên giới. An ninh môi trường không chỉ chính do chúng ta, vì chúng ta mà còn do người khác, từ nơi khác, một cách chủ ý hoặc không chủ ý. Vì vậy, xu hướng chung của các nước hiện nay là tìm cách liên kết khu vực và liên kết quốc tế. Sự liên kết của các nước trong cộng đồng ASEAN về môi trường và gần đây mở rộng thêm các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand… có thể coi là một ví dụ khá điển hình, người ta tìm thấy ở đây những lợi ích chung và người ta cũng tìm thấy ở đây sự san sẻ trách nhiệm.

An ninh môi trường Việt Nam , thực trạng và nguy cơ đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội

1. Những vấn đề cơ bản về chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường

Sau hơn 30 năm chiến tranh từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chúng ta bắt tay vào công cuộc xây dựng lại đất nước với rất nhiều khó khăn. Chúng ta ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tăng trưởng kinh tế, đảm bảo đời sống vật chất cho nhân dân. Một phần do những điều kiện khách quan, một phần do nhận thức chung, có một thời gian khá dài vấn đề môi trường đã không được chú ý và đầu tư đúng mức.

Năm 1993 Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên ra đời và đến năm 2005 Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn, trở thành công cụ có ý nghĩa quyết định trong bảo vệ môi trường. Chúng ta cũng đã có chiến lược phát triển bền vững và chiến lược bảo vệ môi trường. Tháng 11 năm 2008, Quốc hội đã thông qua Luật Đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, chúng ta có nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và gần đây là chỉ thị 19 của Ban Bí thư TW về đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường. Đây là những văn kiện cơ bản về đường lối chính sách và pháp luật của Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Xuyên suốt trong các văn kiện đó là tư tưởng chỉ đạo "Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường". Bảo vệ môi trường đã được coi là yếu tố gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện trong mọi chính sách, kế hoạch và hệ thống các giải pháp thực hiện.

Trong 15 năm, kể từ khi có Luật Bảo vệ môi trường, chúng ta đã đi được những bước khá dài và có những thành tựu đáng ghi nhận trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vẫn phải đương đầu với nhiều thách thức. Đó là tình trạng ô nhiễm có tính phổ biến trên cả nước, suy thoái môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp khó lường, tài nguyên nước bị đe dọa v.v… Những vấn đề đó đang tác động mạnh đến đời sống vật chất, sức khỏe và tinh thần của nhân dân.

2. Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hiện nay trên toàn quốc, còn có hơn 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử lý; khoảng 100 khu công nghiệp, khu chế xuất và hàng trăm cụm công nghiệp khác chưa có hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường; hầu hết 1.450 làng nghề không có hệ thống xử lý rác thải, khí thải và nước thải. Môi trường nước các lưu vực sông, đặc biệt là các sông Nhuệ-Đáy, sông Đồng Nai, sông Cầu bị ô nhiễm nghiêm trọng. Riêng lưu vực sông Nhuệ - Đáy có đến hơn 1400 cơ sở y tế với 26.300 giường bệnh, 4.113 doanh nghiệp, 458 làng nghề. Trong khi đó, chỉ mới có 20% chất thải rắn được thu gom và xử lý; chỉ có 10% nước thải của Hà Nội được xử lý. Số còn lại được xả thẳng vào môi trường xung quanh.

3. Đe dọa suy thoái đa dạng sinh học

Việt Nam được coi là một trong những nước có mức đa dạng sinh học cao với hệ sinh thái trên cạn có hơn 13.200 loài thực vật, 10.000 loài động vật. Môi trường biển của chúng ta có 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù với khoảng 11.000 loài sinh vật biển. Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, đốt rừng để làm rãy, khai thác gỗ trái phép, cháy rừng vẫn diễn ra khá phổ biến và là nguyên nhân làm giảm diện tích rừng. Diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy giảm là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện những trận lũ lụt, sạt lở với hậu quả ngày càng nghiêm trọng hơn.

Rừng bị hủy hoại cùng với việc buôn bán và săn bắt có tính chất hủy diệt, du nhập những giống loài mới khó kiểm soát dẫn tới sự suy giảm đa dạng sinh học Việt Nam . Theo kết quả điều tra, chỉ riêng năm 2002, có đến 3.050 tấn động vật hoang dã đã bị săn bắt, buôn bán. Đã có 09 loài động vật và 01 loài hoa lan đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam . Số lượng các loài động vật và thực vật quí hiếm khác cùng đã bị suy giảm.

4. Biến đổi khí hậu phức tạp và khó lường

Theo Ban liên chính phủ về khí hậu, số ngày và tần suất xuất hiện ngày nắng nóng trên lục địa tăng lên trong khi số ngày lạnh giảm đi trong thế kỷ XXI đã được khẳng định. Biển đổi khí hậu, sự nóng lên toàn cầu đã dẫn đến một số hiện tượng thời tiết, khí hậu không bình thường ở Việt Nam trong thời gian qua. Những năm gần đây, ngoài xu thế chung của sự tăng nhiệt độ ở mức độ khác nhau trên cả nước, sự giảm tần suất và cường độ của các dòng (front) lạnh và mưa phùn ở Bắc bộ, một số hiện tượng khí hậu, thời tiết dị thường và cực đoan đã xảy ra.

Hiện tượng ENSO (El Nino và La Nina) ảnh hưởng đến nước ta mạnh hơn trong các thập kỷ 1981 - 1990, đặc biệt là từ 1991 đến 2000 so với các thập kỷ trước đó, làm xuất hiện nhiều cực trị mới về nhiệt độ, lượng mưa, hạn hán, lũ lụt. Đợt mưa cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 2008 với lượng mưa 24 giờ lớn nhất ở Hà Nội, Hà Đông là một trong những biểu hiện của mưa lớn trái mùa, gây hậu quả nghiêm trọng.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.