Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/09/2006 00:34 (GMT+7)

Mở rộng không gian lối sống để bảo vệ các giá trị

Đây là một nguy cơ mà nhiều năm qua đã không ngăn chặn được một cách triệt để, kịp thời và có hiệu quả bằng các lý do cao cả và các hoạt động rầm rộ nên rõ ràng việc ngăn chặn nguy cơ này ít nhất phải bắt đầu tư việc tìm hiểu cơ chế và đặc điểm của sự mất mát các di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hiện nay.

Xây hóa ra cất?

Thật ra không có một ranh giới rạch ròi giữa văn hóa vật thể và văn hoá phi vật thể. Một giá trị văn hóa vật thể luôn mang kèm trong nó các yếu tố không thể cân đong đếm, còn một giá trị văn hóa phi vật thể luôn luôn phải tồn tại, biểu hiện dưới các hình thức, dạng thức vật chất cụ thể của thực tại đương thời. Một ngôi chùa cổ kính tự nó toát ra dáng cách trầm mặc trang nghiêm không thể có ở một vũ trường, một bài thơ nhất định phải được bảo lưu và phổ biến bằng chữ viết hay ngôn ngữ.

Các giá trị văn hóa vật thể nói chung cần một không gian vật lý nhất định và có một hình thức vật chất xác định, còn các giá trị văn hóa phi vật thể nói chung không định dạng, định lượng và thậm chí cả định tính trong một hình thức vật chất duy nhất. Hơn thế nữa, một bài hát phải được biểu hiện qua hoạt động ca hát, một trò chơi phải được bộc lộ qua hoạt động giải trí điều này khiến các giá trị văn hóa phi vật thể có một phương thức tồn tại và phát triển khác với các giá trị văn hóa vật thể, đó là chúng luôn cần tới hoạt động sử dụng - tiêu dùng các giá trị văn hóa mang tính sáng tạo của con người. Xuất phát từ chỗ này, có thể tìm hiểu cơ chế và đặc điểm của sự mất mát các giá trị văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hiện nay.

Đối với các giá trị văn hóa vật thể, tình hình mất mát rất dễ nhìn thấy, nhưng ngoài các hiện tượng loại lấy cắp tượng Phật, đào trộm lăng mộ, buôn lậu đồ cổ… tóm lại là gây ra sự chuyển dịch, thay đổi bất hợp pháp các giá trị này trong không gian còn có việc gây ra sự chuyển dịch, thay đổi tuy hợp pháp nhưng lại phản văn hóa mà đáng tiếc là hầu như các cơ quan Nhà nước mới có thể gây ra đối với các giá trị văn hóa vật thể. Khi người ta trùng tu khu lăng mộ vua Lê ở Lam Kinh cứ như xây dựng một sân vận động, khi người ta để mặc nhiều biệt thự ở Đà Lạt bị những người vô gia cư chiếm dụng làm nhà riêng biến thành các khu chung cư, khi người ta thắng tay bóc hết những phiến đá xanh trên một số đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh để chỉnh trang đô thị bằng bê tông và gạch con sâu, khi người ta xây dựng đường cáp treo cho du khách lướt xuống lượn lên trên chùa Yên Tử… thì không một di sân văn hóa nào có thể được giữ gìn chứ đừng nói tới chuyện được kế thừa, tiếp nối. Các giá trị văn hóa vật thể chứa đựng trong chúng một không gian đồng thời tồn tại trong không gian đã đành, nhưng các không gian vật lý ấy luôn gắn liền với các không gian tâm lý - văn hóa có cấu trúc tương ứng. Cho nên việc thay đổi không gian vật lý bên trong vả bên ngoài với các quan hệ vật thể vốn cỏ của các giá trị văn hỏa vật thể theo những cung cách như thế đã hủy hoại tận gốc không gian tâm lý, văn hóa cần thiết cho chúng tồn tại và phát huy tác dụng. Trước mặt tiền một ngôi chùa mà dựng lên một dãy shop bán quần áo lót, trong chánh điện một ngôi miếu mà đặt một bộ salon thì không gian tâm lý - văn hóa của các chùa miếu ấy đã bị thay đổi hoàn toàn. Còn phải nói tới việc trùng tu dùng bê tông xi măng thay cho cát đá vôi gạch, dùng sơn nước hiện đại thay cho son sơn vàng thiếp cổ truyền tác động bất lợi tới hình thức (kiểu dáng, đường nét, màu sắc) tính chất (đặc điểm cơ lý) và tuổi thọ (quá trình hóa sinh) của các giá trị văn hóa vật thể đã diễn ra nhiều năm nay ở khắp Việt Nam.

Rối do thái quá

Đối với các giá trị văn hóa phi vật thể thì vấn đề có phần phức tạp hơn. Mang tính độc lập tương đối với hình thức vật chất của chúng, các giá trị văn hóa phi vật thể có một phương thức tải sản xuất mở rộng linh hoạt và hiệu quả hơn so với các giá trị văn hóa vật thể, chẳng hạn có thể tách những câu khác nhau trong Truyện Kiều để làm một bài thơ khác (tập Kiều), hay chọn những câu của nhiều bài thơ Đường khác nhau ghép thành một bài thơ mới (thơ tập cổ), nhưng rất khó làm điều tương tự với các món đồ cổ hay lăng mộ đình chùa. Bên cạnh đó, so với các di sản văn hóa vật thể, quan hệ giữa các di sản văn hóa phi vật thể mang tính hệ thống chặt chẽ, phức hợp hơn. Một bộ đồ trà cổ chẳng may bị vỡ một cái chén thì những ấm chén còn lại bị lẻ bộ chứ không tồn hại gì nhưng một nghề thủ công cổ truyền mất đi thì như trong một phản ứng dây chuyền, một số lễ hội phong tục nghề nghiệp sẽ mất theo, hàng loạt từ ngữ, thành ngữ, tiếng lóng nghề nghiệp sẽ mất theo. Chính vì thế nên hiện nay ở Việt Nam , sự mất mát của các di sản văn hóa phi vật thể nghiêm trọng hơn nhiều so với điều ta tưởng.

Nếu thừa nhận các giá trị văn hóa phi vật thể luôn cần tới hoạt động sử dụng - tiêu dùng, các giá trị văn hóa của con người mới có thể tồn tại và phát triển, mới xác lập được mối quan hệ với thực tiễn xã hội thì quan hệ ấy được xác định chủ yếu trên cơ sở chức năng. Dĩ nhiên chức năng của các giá trị văn hóa phi vật thể có thể mở rộng hay thu hẹp, giữ nguyên hình hay được khuôn nắn lại, tóm lại là có thể thay đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể, nhưng luôn luôn có một cái ngưỡng tiên thiên, một giới hạn nhất định cho sự thay đổi này. Các nhà buôn người Hoa có thể tới nhiều đình chùa miếu mạo cúng bái khấn khứa đủ loại thần thánh phù hộ mình làm ăn phát tài, nhưng không ai lại tới Văn miếu xin Khổng Tử giúp mình buôn may bán đắt. Đây không phải là họ không tín nhiệm Khổng Tử, mà vì Khổng Tử không có chức năng giúp đỡ họ trên thương trường. Quan hệ với thực tiễn xã hội và chức năng trong thực tiễn ấy là không gian tồn tại của các giá trị văn hóa phi vật thể. Phương thức hủy diệt và triệt tiêu luôn ăn khớp với phương thức tồn tại và phát triển nên sự mất mát các giá trị văn hóa phi vật thể cũng phụ thuộc nhiều hơn vào các hoạt động sử dụng - tiêu dùng của cơn người. Nói cụ thế hơn, nêu tính chức năng là yếu tố hàng đầu làm nên giá trị của các giá tri văn hóa phi vật thể, thì sự mở rộng thái quá chức năng sẽ khiến chóng biến chất - tha hồ còn sự thu hẹp thải quả chức năng sẽ khiến chúng bi hủy diệt - triệt tiêu. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất là việc người ta tạc tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ ở bãi tắm Suối Tiên để làm vui mắt các Tiên Dung và Chử Đồng Tử của thời hiện đại, và ví dụ cho trường hợp thứ hai là khi xây dựng Văn miếu Trấn Biên ở Biên Hòa người ta đã đưa Khổng Tử ra khỏi điện Đại Thành. Các cung cách mở rộng hay thu hẹp không gian chức năng không theo quy luật nào và không có chuẩn tắc gì ấy không những nhiều khi vi phạm các quy định pháp lý và chuẩn mực đạo lý mà trong hầu hết trường hợp còn đưa tới sự hạ thấp hay tầm thường hóa các giá trị văn hóa phi vật thể và dù nhiều hay ít cũng đẩy chúng vào một tình trạng rối loạn chức năng. Giữa các giá trị văn hóa phi vật thể lại có những mối quan hệ phi vật thể không thể tách rời, nên nếu đã có đường Trần Hưng Đạo B tách Trần Quốc Tuấn làm hai nửa còn dính với nhau trong một không gian hành chính thì tự nhiên sẽ có. Cơ sở massage Hùng Vương dùng danh hiệu Quốc tổ làm bảng hiệu để các “thượng đế” tiện có mặt khi muốn về nguồn.

Giữ mà phá, thêm mà bớt

Nhìn chung các di sản văn hóa bị mất mát theo hai cách: một là bị hủy diệt hai là bị vô hiệu hóa trong tiến trình văn hóa, bị gạt ra bên lề của cuộc tiến hóa. Đối với các giá trị văn hóa phi vật thế thì sự hủy diệt có tới hai diện mạo: một là bị hủy diệt về lượng, hai là bị hủy diệt về chất, nghĩa là bị biến chất - tha hóa, tuy về hình thức thì vẫn còn tồn tại nhưng về chức năng thì đã có những đổi thay. Điều này dễ làm người ta mất cảnh giác các giá trị ấy vẫn còn đó chẳng hạn tiếng Việt vẫn còn được sử dụng, lịch sử dân tộc vẫn còn được giảng dạy, đi sản văn hóa Hán Nôm vẫn còn được bảo vệ, truyền thống tôn sư trọng đạo vẫn còn được tôn vinh. Nhưng có lẽ cần sáng suốt hơn: so với cách nay 30 năm tiếng Việt trong ngôn ngữ cả nói lẫn viết đã thay đổi rất nhiều cấu trúc câu đơn điệu hơn trước, số lượng thành ngữ tục ngữ bớt đi, tỷ lệ từ ngữ Việt Hán giảm xuống tỉ lệ thuật ngữ khoa học kỹ thuật và quản lý phương Tây mà chủ yếu là tiếng Anh không (hay chưa) được Việt hóa tăng lên. Bộ Chinese Windows 95 của Trung Quốc đã có một hệ thống thuật ngữ tin học được Hoa hóa, còn chúng ta thì chưa có nhưng dường như cũng không mấy người buồn nhìn thấy ở đây một nguy cơ tiềm ẩn đối với tiếng Việt. Tương tự, một cô giáo dạy sử đã hướng dẫn tóm tắt cách ôn tập các bài học lịch sử như sau. “Không nên đọc suông mà phải đặt vấn đề: vì sao, tại sao, thế nào? Sử học gọi là nguyên nhân, âm mưu, chủ trương. Cách giãi quyết trong sử gọi là diễn biến, thủ đoạn, hành động. Thành công hay thất bại sử gọi là kết quả. Vấn đề để lại sử gọi là ý nghĩa, bài học kinh nghiệm” (Sài gòn giải phóng, ngày 26/4/2002). Rất chặt chẽ về thao tác luận nhưng chỉ là một cách thức nhồi nhét không hơn không kém. Không thể trách cô giáo ấy bởi chính thiết chế giáo dục và những cơ chế thi cử của chúng ta đang coi sử là một môn học thuộc lòng và cố gắng chạy theo mục tiêu làm cho học sinh “thuộc nhanh và nhớ lâu” nên vô hình trung đã biến các em thành một loại casstte chạy bằng cơm không hề biết tới sự rung cảm, lòng tự hào, nỗi đau xót… cần có khi học tập lịch sử. Những câu thơ Quốc ngữ La Tinh được phóng bút ngẫu hứng không theo chương pháp nào của một số người được gọi hay tự nhận là thư pháp gia đã bôi bác tất cả các chuẩn mực cơ bản của nghệ thuật thư pháp chữ Hán, còn chữ “lễ" trong mệnh đề “Tiên học lễ, hậu học văn” đã bị hiểu là động từ nên nhiều năm nay trong ngành giáo dục từ phổ thông tới trên đại học vẫn có những món lễ vật phi lễ làm điên đảo luân thường. Có thể nói cái cơ chế “Giữ mà phá, thêm mà bớt” này đang là tác nhân chủ yếu dẫn tới sự mất mát của các di sản văn hóa cả vật thể lẫn phi vật thể, và “Hồn Trương Ba da hàng thịt” đang là đặc điểm chủ đạo trong sự mất mát của các di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hiện nay.

Qua lịch sử, trong mọi di sản truyền thống đều có những yếu tố bị đào thải ở một mức độ nhất định, điều đó là quy luật. Nhưng ngược lại với việc đào thải, việc bảo vệ và kế thừa các giá trị truyền thống cũng là một quy luật trong văn hóa của loài người. Cho nên, nếu hiện nay ở việt Nam có nhiều giá trị truyền thống đang mất đi thì cũng là chuyện bình thường, chỉ có cách thức mà chúng ta để cho chúng mất đi mới có những điều bất thường đáng nói. Nhưng nếu thừa nhận các giá trị văn hóa vật thể phải có các không gian tâm lý văn hóa phù hợp với các giá trị văn hóa phi vật thể, phải có các không gian chức năng cần thiết mới có thể tồn lại và phát huy tác dụng thì trước hết phải củng cố và mở rộng không gian lối sống có khả năng hiểu biết và thái độ trân trọng đối với các giá trị truyền thống, cái không gian mà đáng tiếc, vì nhiều lý do, hiện đang ngày càng bị thu hẹp ở Việt Nam.

Nguồn: Tia sáng; chungta.com, 12/08/2006

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.