Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 27/06/2011 20:51 (GMT+7)

Mô hình phòng trừ nhện Gié

Không chỉ có vậy, hiện tại, ở hầu hết các Trạm Bảo vệ thực vật, thường không có kính lúp soi nổi có độ phóng đại cần thiết (20-60 lần) để có thể nhìn rõ loài virut gây hại và các vết hại trên thân, trên gié lúa nhất là khi lúa mới trỗ.

Nhện gié xuất hiện và gây hại cho lúa quanh năm, nhưng nhiều nhất là vụ mùa khi điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn. Nhện gié có tên khoa học là Steneostarsonemus spinki Smiley, có kích thước rất nhỏ, rất khó phát hiện bằng mắt thường. Vì vậy, ngành nông nghiệp đã xây dựng mô hình phòng trừ bệnh nhện gié tại HTX Mạc Hạ, xã Công Lý, huyện Lý Nhân. Thời gian triển khai mô hình từ 11/6/2010- 5/9/2010.

I. Mục đích

- Nâng cao nhận thức cho cán bộ kỹ thuật và nông dân về biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié (IPM nhện gié) có hiệu quả và thân thiện với môi trường.

- Xác định hiệu quả kinh tế của biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié nhằm hạn chế sự phát sinh gây hại của nhện gié, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái.

II. Kết quả triển khai thực hiện mô hình

2.1. Một số yếu tố thí nghiệm

Bảng 1: Một số yếu tố thí nghiệm

STT

Chỉ tiêu theo dõi

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

1

Giống lúa

KD 18

KD18

KD18

2

Lượng giống gieo

42 kg/ha

42 kg/ha

55 kg/ha

3

Ngày xử lý hạt giống

11/6/2010

11/6/2010

11 - 14/6/2010

4

Thuốc xử lý hạt giống

CruierPlus 312.5FS

CruierPlus 312.5FS

Enaldo 40FS

5

Ngày gieo mạ

12/6/2010

12/6/2010

12 - 15/6/2010

6

Ngày cấy

29-30/6/2010

29/6-2/7/2010

29/6 - 5/7/2010

7

Mật độ cấy

40

45

45

8

Số dảnh/khóm

2

2 - 4

2 - 4

9

Thời gian lúa trỗ

20-25/8/2010

20-28/8/2010

20/8-5/9/2010

Nhận xét:Trong mô hình phòng trừ nhện gié, chỉ đạo đồng loạt cấy giống lúa Khang dân 18, xử lý hạt giống trước khi gieo, lượng giống gieo 42 kg/ha. Ngày 29-30/6 tuổi mạ 17-18 ngày, thời tiết mát nên đã tiến hành cấy đồng loạt 1 ha IPM (1 ha quản lý dịch hại tổng hại) dưới sự giám sát về mật độ và số dành của các cán bộ kỹ thuật. Do vậy nên sau cấy lúa phát triển đồng đều và cuối vụ trỗ thoát nhanh và gọn hơn. Ruộng ngoài mô hình và ruộng nông dân, cấy to cây và dày hơn. Thời gian cấy các hộ không đồng đều nên thời gian lúa trỗ dài hơn.

2.2. Lượng phân bón trong và ngoài mô hình

Trong mô hình 1 ha IPM, 16 hộ bón phân đồng đều nhau cả về lượng, thời gian bón và cách bón. Theo quy trình xây dựng ban đầu, số lượng và phương pháp bón của từng loại như vôi, lân, kali không thay đổi. Riêng về đạm có sự thay đổi do 30% lượng đạm để bón giai đoạn lúa phân hóa đòng, căn cứ vào mầu sắc lá lúa, số dành/khóm, nhóm đã quyết định không bón mà thay vào đó là phun 1 lần phân bón qua lá để bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng giai đoạn lúa phát triển đòng. 4 ha trong mô hình và khu đổi chứng của nông dân bón theo tập quán cũ, tùy từng hộ về loại phân, lượng phân, thời gian bón và cách bón.

2.3. Điều tiết nước:Cả trong và ngoài mô hình đều giống nhau do tình hình chung của địa phương. Giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ sau cấy 10 và 25 ngày đều cạn nước trong khoảng 5-7 ngày.

2.4. Sinh trưởng của lúa

Bảng 2: Sinh trưởng của lúa trong và ngoài mô hình

Chỉ tiêu

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

01/7/2010

20,56

1,8

20,49

2,85

20,52

3,13

09/7/2010

25,7

4,39

26,02

4,66

27,04

5,21

16/7/2010

37,73

9,39

39,17

9,83

39,54

10,15

23/7/2010

50,81

11,85

52,07

12,14

53,61

13,88

30/7/2010

62,25

10,76

64,12

11,68

65,72

11,94

06/8/2010

72,96

10,56

73,28

10,72

74,88

11,24

13/8/2010

80,93

7,46

81,19

7,68

82,24

8,22

Số bông/khóm

6,47

6,27

7,03

Tỷ lệ bông hữu hiệu (%)

54,60

51,64

50,64

Nhận xét:Chiều cao cây và số dảnh/khóm trong mô hình 1 ha IPM ở các kỳ điều tra luôn thấp hơn so với ruộng nông dân trong mô hình và ngoài mô hình, song tỷ lệ dành hữu hiệu trong mô hình IPM cao hơn 2,96 - 3,96%.

Bảng 3: Diễn biến mật độ nhện gié trong và ngoài mô hình (con/dảnh)

Ngày điều tra

Giai đoạn sinh trưởng của lúa

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Nhện

Trứng

Nhện

Trứng

Nhện

Trứng

09/7/2010

Bắt đầu đẻ nhánh

0

0

0

0

0

0

16/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

23/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

30/7/2010

Cuối đẻ-phân hóa đòng

0

0

0

0

0

0

06/8/2010

Đòng non

RR

0

RR

0

RR

0

13/8/2010

Phát triển đòng

0,6 *

3,3 *

0,71

0,55

1,12

2,59

20/8/2010

Đòng già - Thấp tho trỗ

0,4

0,72

12,1 *

4,78 *

24,06

7,34

27/8/2010

Trỗ xong

2,14

0,84

1,13

1,06

141,60

53,7

04/9/2010

Ngậm sửa

3,13

1,76

1,84

0,93

754,80

418,2

11/9/2010

Chắc xanh - đổ đuôi

6,74

1,22

2,2

0,8

557,33

426,5

18/9/2010

Chín sáp

8,99

1,57

6,78

0,63

553,35

93,9

25/9/2010

Thu hoạch

6,12

0,78

5,12

0,50

142,58

9,63

Ghi chú:*Phun thuốc

Nhận xét:Qua điều tra cho thấy: Nhện gié xuất hiện và gây hại từ giai đoạn lúa đòng non (ngày điều tra 6/8). Mật độ nhện gié rất thấp, sau đó tăng dần. Mật độ nhện gié của ruộng IPM, ruộng của nông dân trong mô hình luôn thấp hơn so với ruộng nông dân ngoài mô hình rất nhiều. Điều này có thể lý giải do trong mô hình IPM chỉ đạo xử lý ruộng trước khi cấy bằng vôi bột và phun trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 bằng Regent 800WG đã làm giảm nguồn nhện rất lớn. Đến 13/8, mô hình IPM chỉ đạo phun thuốc đồng loạt trừ nhện gié bằng thuốc Kinalux 25EC, với lượng 100ml/30 lít nước/sào Bắc Bộ (2,8 lít thuốc/800 lít nước phun kỹ ruộng và các bờ xung quanh vào ruộng 2m). 4 ha cấy trong mô hình nhện gié chỉ đạo phun đồng loạt từ ngày 21 - 22/8 bằng thuốc Kinalux 25EC, với lượng 70ml/20-24 lít nước/sào Bắc Bộ (1,9 lít thuốc/550 - 660 lít nước/ha). Kết quả, đến cuối vụ, mật độ nhện gié trong mô hình rất thấp so với ngoài mô hình không phun thuốc trừ nhện gié.

Bảng 4: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện gié trong và ngoài mô hình

Ngày điều tra

Giai đoạn sinh trưởng của lúa

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

09/7/2010

Bắt đầu đẻ nhánh

0

0

0

0

0

0

16/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

23/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

30/7/2010

Cuối đẻ-phân hóa đòng

0

0

0

0

0

0

06/8/2010

Đòng non

2

0,22

5

0,56

8

0,89

13/8/2010

Phát triển đòng

8 *

0,89 *

23

2,56

37

4,11

20/8/2010

Đòng già - Thấp tho trỗ

11

1,22

45 *

5,00 *

48

5,33

27/8/2010

Trỗ xong

12

1,33

44

4,89

61

6,78

04/9/2010

Ngậm sửa

24

2,67

48

6,67

73

55,11

11/9/2010

Chắc xanh - đổ đuôi

35

5,67

51

9,22

100

72,89

18/9/2010

Chín sáp

55

16,77

56

16,44

100

80,67

25/9/2010

Thu hoạch

59

19,1

57

17,11

100

86,89

Ghi chú:*Phun thuốc

Nhận xét:Do chỉ đạo phun trừ nhện gié kịp thời trước khi lúa trỗ nên trong mô hình tỷ lệ hại của nhện gié thấp hơn ngoài mô hình 41 - 43% và chỉ số hại thấp hơn 67,79 - 69,78%. Trong mô hình mặc dù tỷ lệ hại 57-59% xong chủ yếu cấp 1,3. Ngoài mô hình 100% số dảnh bị nhện gié gây hại chủ yếu cấp 7,9, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cuối vụ.

2.5. Các yếu tố cấu thành năng suất lúa

Số bông/m 2trong mô hình thấp hơn ngoài mô hình, song bông to hơn và chắc hơn. Tỷ lệ lép trong mô hình thấp hơn so với nông dân ngoài mô hình 25,2-28%. Năng suất cuối vụ trong mô hình cao hơn ngoài mô hình 1,93 - 2,1 tấn/ha tương đương với 34,6 - 36,5%.

2.6. Hiệu quả kinh tế

So sánh trong mô hình và ngoài mô hình cho thấy hiệu quả khi ứng dụng mô hình "Quản lý tổng hợp nhện gié" đã đem lại: Tổng chi phí giảm hơn so với nông dân 487.000 - 1.918.800 đồng/ha, trong đó: Chi phí về giống giảm 210.000 đồng/ha; chi phí về phân bón của IPM giảm so với nông dân 635.700 đồng/ha; chi phí về BVTV giảm 768.800 - 1,987.100 đồng/ha (1 lần trừ bệnh, 1 lần trừ sâu đục thân, 1 lần trừ rầy cuối vụ); năng suất tăng hơn 34,6 - 36,5% do phun trừ nhện gié đạt hiệu quả cao; lãi trên đơn vị diện tích cao hơn 13.591.000 - 14.002.800 đồng; giá thành sản xuất 1 kg thóc giảm hơn 2.760 - 2.885 đồng.

III. Kết luận

1. Kết quả nghiên cứu của mô hình sẽ góp phần bổ sung thêm đối tượng dịch hại chính trên lúa, phục vụ cho công tác điều tra phát hiện dự tính, dự báo và chỉ đạo phòng trừ tại Hà Nam . Cụ thể: Nhện gié phát sinh, phát triển từ giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh - phân hóa đòng trở đi.

Nếu được thực hiện các biện pháp quản lý tổng hợp ngay từ đầu vụ thì mật độ nhện, tỷ lệ hại và chỉ số hại trong mô hình đều thấp hơn so với tập quán sản xuất của nông dân ngoài mô hình.

+ Triệu chứng gây hại của nhện gié giai đoạn trước khi lúa trỗ là các ổ nhện trong bẹ lá và gân chính của lá và các ổ trứng rầy. Nhưng sau khi lúa trỗ chủ yếu nhện tập trung ở mặt trong của bẹ lá đòng. Các vết cạo gió thường xuất hiện sau khi lúa trỗ 1 tuần và đậm dần đến cuối vụ.

+ Giai đoạn lúa phát triển đòng trước trỗ 10 ngày nếu tỷ lệ hại trên 10%, mật độ nhện và trứng khoảng 5 - 10 con/dảnh, không phát hiện kịp thời để chỉ đạo phun trừ thì mật độ nhện tăng lên rất nhanh đến 1.000 con và trứng/dảnh ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối vụ.

- Đánh giá được hiệu quả của một số loại thuốc trừ nhện gié tại địa phương để khuyến cáo nông dân ở các vụ sau.

+ Thuốc Regent 800WG phun trừ sâu cuốn là nhỏ giai đoạn lúa đòng với lượng 55 g/ha có tác dụng giảm bớt nguồn nhện gié đáng kể;

+ Thuốc Kinalux 25EC phun trừ nhện gié với liều lượng 1,9 - 2,8 lít/600-800 lít nước/ha đạt hiệu quả 87 - 93%;

+ Thời điểm phun trừ nhện gié đạt hiệu quả trước trỗ 7-10 ngày và khi lúa thấp trỗ.

- Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng phòng trừ nhện gié Steneotarsonemus spinkiSmileytheo hướng tổng hợp để mang lại hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường.

+ Bón phân cân đối NPK theo quy trình bón phân cải tiến để hiệu quả hấp thu phân bón cao. Cấy nhỏ dảnh và mật độ vừa phải tùy theo giống, chân đất để tiết kiệm giống. Giảm chi phí về phòng trừ sâu, bệnh 1-2 lần. Tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: