Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 27/06/2011 20:51 (GMT+7)

Mô hình phòng trừ nhện Gié

Không chỉ có vậy, hiện tại, ở hầu hết các Trạm Bảo vệ thực vật, thường không có kính lúp soi nổi có độ phóng đại cần thiết (20-60 lần) để có thể nhìn rõ loài virut gây hại và các vết hại trên thân, trên gié lúa nhất là khi lúa mới trỗ.

Nhện gié xuất hiện và gây hại cho lúa quanh năm, nhưng nhiều nhất là vụ mùa khi điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn. Nhện gié có tên khoa học là Steneostarsonemus spinki Smiley, có kích thước rất nhỏ, rất khó phát hiện bằng mắt thường. Vì vậy, ngành nông nghiệp đã xây dựng mô hình phòng trừ bệnh nhện gié tại HTX Mạc Hạ, xã Công Lý, huyện Lý Nhân. Thời gian triển khai mô hình từ 11/6/2010- 5/9/2010.

I. Mục đích

- Nâng cao nhận thức cho cán bộ kỹ thuật và nông dân về biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié (IPM nhện gié) có hiệu quả và thân thiện với môi trường.

- Xác định hiệu quả kinh tế của biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié nhằm hạn chế sự phát sinh gây hại của nhện gié, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái.

II. Kết quả triển khai thực hiện mô hình

2.1. Một số yếu tố thí nghiệm

Bảng 1: Một số yếu tố thí nghiệm

STT

Chỉ tiêu theo dõi

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

1

Giống lúa

KD 18

KD18

KD18

2

Lượng giống gieo

42 kg/ha

42 kg/ha

55 kg/ha

3

Ngày xử lý hạt giống

11/6/2010

11/6/2010

11 - 14/6/2010

4

Thuốc xử lý hạt giống

CruierPlus 312.5FS

CruierPlus 312.5FS

Enaldo 40FS

5

Ngày gieo mạ

12/6/2010

12/6/2010

12 - 15/6/2010

6

Ngày cấy

29-30/6/2010

29/6-2/7/2010

29/6 - 5/7/2010

7

Mật độ cấy

40

45

45

8

Số dảnh/khóm

2

2 - 4

2 - 4

9

Thời gian lúa trỗ

20-25/8/2010

20-28/8/2010

20/8-5/9/2010

Nhận xét:Trong mô hình phòng trừ nhện gié, chỉ đạo đồng loạt cấy giống lúa Khang dân 18, xử lý hạt giống trước khi gieo, lượng giống gieo 42 kg/ha. Ngày 29-30/6 tuổi mạ 17-18 ngày, thời tiết mát nên đã tiến hành cấy đồng loạt 1 ha IPM (1 ha quản lý dịch hại tổng hại) dưới sự giám sát về mật độ và số dành của các cán bộ kỹ thuật. Do vậy nên sau cấy lúa phát triển đồng đều và cuối vụ trỗ thoát nhanh và gọn hơn. Ruộng ngoài mô hình và ruộng nông dân, cấy to cây và dày hơn. Thời gian cấy các hộ không đồng đều nên thời gian lúa trỗ dài hơn.

2.2. Lượng phân bón trong và ngoài mô hình

Trong mô hình 1 ha IPM, 16 hộ bón phân đồng đều nhau cả về lượng, thời gian bón và cách bón. Theo quy trình xây dựng ban đầu, số lượng và phương pháp bón của từng loại như vôi, lân, kali không thay đổi. Riêng về đạm có sự thay đổi do 30% lượng đạm để bón giai đoạn lúa phân hóa đòng, căn cứ vào mầu sắc lá lúa, số dành/khóm, nhóm đã quyết định không bón mà thay vào đó là phun 1 lần phân bón qua lá để bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng giai đoạn lúa phát triển đòng. 4 ha trong mô hình và khu đổi chứng của nông dân bón theo tập quán cũ, tùy từng hộ về loại phân, lượng phân, thời gian bón và cách bón.

2.3. Điều tiết nước:Cả trong và ngoài mô hình đều giống nhau do tình hình chung của địa phương. Giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ sau cấy 10 và 25 ngày đều cạn nước trong khoảng 5-7 ngày.

2.4. Sinh trưởng của lúa

Bảng 2: Sinh trưởng của lúa trong và ngoài mô hình

Chỉ tiêu

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

01/7/2010

20,56

1,8

20,49

2,85

20,52

3,13

09/7/2010

25,7

4,39

26,02

4,66

27,04

5,21

16/7/2010

37,73

9,39

39,17

9,83

39,54

10,15

23/7/2010

50,81

11,85

52,07

12,14

53,61

13,88

30/7/2010

62,25

10,76

64,12

11,68

65,72

11,94

06/8/2010

72,96

10,56

73,28

10,72

74,88

11,24

13/8/2010

80,93

7,46

81,19

7,68

82,24

8,22

Số bông/khóm

6,47

6,27

7,03

Tỷ lệ bông hữu hiệu (%)

54,60

51,64

50,64

Nhận xét:Chiều cao cây và số dảnh/khóm trong mô hình 1 ha IPM ở các kỳ điều tra luôn thấp hơn so với ruộng nông dân trong mô hình và ngoài mô hình, song tỷ lệ dành hữu hiệu trong mô hình IPM cao hơn 2,96 - 3,96%.

Bảng 3: Diễn biến mật độ nhện gié trong và ngoài mô hình (con/dảnh)

Ngày điều tra

Giai đoạn sinh trưởng của lúa

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Nhện

Trứng

Nhện

Trứng

Nhện

Trứng

09/7/2010

Bắt đầu đẻ nhánh

0

0

0

0

0

0

16/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

23/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

30/7/2010

Cuối đẻ-phân hóa đòng

0

0

0

0

0

0

06/8/2010

Đòng non

RR

0

RR

0

RR

0

13/8/2010

Phát triển đòng

0,6 *

3,3 *

0,71

0,55

1,12

2,59

20/8/2010

Đòng già - Thấp tho trỗ

0,4

0,72

12,1 *

4,78 *

24,06

7,34

27/8/2010

Trỗ xong

2,14

0,84

1,13

1,06

141,60

53,7

04/9/2010

Ngậm sửa

3,13

1,76

1,84

0,93

754,80

418,2

11/9/2010

Chắc xanh - đổ đuôi

6,74

1,22

2,2

0,8

557,33

426,5

18/9/2010

Chín sáp

8,99

1,57

6,78

0,63

553,35

93,9

25/9/2010

Thu hoạch

6,12

0,78

5,12

0,50

142,58

9,63

Ghi chú:*Phun thuốc

Nhận xét:Qua điều tra cho thấy: Nhện gié xuất hiện và gây hại từ giai đoạn lúa đòng non (ngày điều tra 6/8). Mật độ nhện gié rất thấp, sau đó tăng dần. Mật độ nhện gié của ruộng IPM, ruộng của nông dân trong mô hình luôn thấp hơn so với ruộng nông dân ngoài mô hình rất nhiều. Điều này có thể lý giải do trong mô hình IPM chỉ đạo xử lý ruộng trước khi cấy bằng vôi bột và phun trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 bằng Regent 800WG đã làm giảm nguồn nhện rất lớn. Đến 13/8, mô hình IPM chỉ đạo phun thuốc đồng loạt trừ nhện gié bằng thuốc Kinalux 25EC, với lượng 100ml/30 lít nước/sào Bắc Bộ (2,8 lít thuốc/800 lít nước phun kỹ ruộng và các bờ xung quanh vào ruộng 2m). 4 ha cấy trong mô hình nhện gié chỉ đạo phun đồng loạt từ ngày 21 - 22/8 bằng thuốc Kinalux 25EC, với lượng 70ml/20-24 lít nước/sào Bắc Bộ (1,9 lít thuốc/550 - 660 lít nước/ha). Kết quả, đến cuối vụ, mật độ nhện gié trong mô hình rất thấp so với ngoài mô hình không phun thuốc trừ nhện gié.

Bảng 4: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện gié trong và ngoài mô hình

Ngày điều tra

Giai đoạn sinh trưởng của lúa

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

09/7/2010

Bắt đầu đẻ nhánh

0

0

0

0

0

0

16/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

23/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

30/7/2010

Cuối đẻ-phân hóa đòng

0

0

0

0

0

0

06/8/2010

Đòng non

2

0,22

5

0,56

8

0,89

13/8/2010

Phát triển đòng

8 *

0,89 *

23

2,56

37

4,11

20/8/2010

Đòng già - Thấp tho trỗ

11

1,22

45 *

5,00 *

48

5,33

27/8/2010

Trỗ xong

12

1,33

44

4,89

61

6,78

04/9/2010

Ngậm sửa

24

2,67

48

6,67

73

55,11

11/9/2010

Chắc xanh - đổ đuôi

35

5,67

51

9,22

100

72,89

18/9/2010

Chín sáp

55

16,77

56

16,44

100

80,67

25/9/2010

Thu hoạch

59

19,1

57

17,11

100

86,89

Ghi chú:*Phun thuốc

Nhận xét:Do chỉ đạo phun trừ nhện gié kịp thời trước khi lúa trỗ nên trong mô hình tỷ lệ hại của nhện gié thấp hơn ngoài mô hình 41 - 43% và chỉ số hại thấp hơn 67,79 - 69,78%. Trong mô hình mặc dù tỷ lệ hại 57-59% xong chủ yếu cấp 1,3. Ngoài mô hình 100% số dảnh bị nhện gié gây hại chủ yếu cấp 7,9, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cuối vụ.

2.5. Các yếu tố cấu thành năng suất lúa

Số bông/m 2trong mô hình thấp hơn ngoài mô hình, song bông to hơn và chắc hơn. Tỷ lệ lép trong mô hình thấp hơn so với nông dân ngoài mô hình 25,2-28%. Năng suất cuối vụ trong mô hình cao hơn ngoài mô hình 1,93 - 2,1 tấn/ha tương đương với 34,6 - 36,5%.

2.6. Hiệu quả kinh tế

So sánh trong mô hình và ngoài mô hình cho thấy hiệu quả khi ứng dụng mô hình "Quản lý tổng hợp nhện gié" đã đem lại: Tổng chi phí giảm hơn so với nông dân 487.000 - 1.918.800 đồng/ha, trong đó: Chi phí về giống giảm 210.000 đồng/ha; chi phí về phân bón của IPM giảm so với nông dân 635.700 đồng/ha; chi phí về BVTV giảm 768.800 - 1,987.100 đồng/ha (1 lần trừ bệnh, 1 lần trừ sâu đục thân, 1 lần trừ rầy cuối vụ); năng suất tăng hơn 34,6 - 36,5% do phun trừ nhện gié đạt hiệu quả cao; lãi trên đơn vị diện tích cao hơn 13.591.000 - 14.002.800 đồng; giá thành sản xuất 1 kg thóc giảm hơn 2.760 - 2.885 đồng.

III. Kết luận

1. Kết quả nghiên cứu của mô hình sẽ góp phần bổ sung thêm đối tượng dịch hại chính trên lúa, phục vụ cho công tác điều tra phát hiện dự tính, dự báo và chỉ đạo phòng trừ tại Hà Nam . Cụ thể: Nhện gié phát sinh, phát triển từ giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh - phân hóa đòng trở đi.

Nếu được thực hiện các biện pháp quản lý tổng hợp ngay từ đầu vụ thì mật độ nhện, tỷ lệ hại và chỉ số hại trong mô hình đều thấp hơn so với tập quán sản xuất của nông dân ngoài mô hình.

+ Triệu chứng gây hại của nhện gié giai đoạn trước khi lúa trỗ là các ổ nhện trong bẹ lá và gân chính của lá và các ổ trứng rầy. Nhưng sau khi lúa trỗ chủ yếu nhện tập trung ở mặt trong của bẹ lá đòng. Các vết cạo gió thường xuất hiện sau khi lúa trỗ 1 tuần và đậm dần đến cuối vụ.

+ Giai đoạn lúa phát triển đòng trước trỗ 10 ngày nếu tỷ lệ hại trên 10%, mật độ nhện và trứng khoảng 5 - 10 con/dảnh, không phát hiện kịp thời để chỉ đạo phun trừ thì mật độ nhện tăng lên rất nhanh đến 1.000 con và trứng/dảnh ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối vụ.

- Đánh giá được hiệu quả của một số loại thuốc trừ nhện gié tại địa phương để khuyến cáo nông dân ở các vụ sau.

+ Thuốc Regent 800WG phun trừ sâu cuốn là nhỏ giai đoạn lúa đòng với lượng 55 g/ha có tác dụng giảm bớt nguồn nhện gié đáng kể;

+ Thuốc Kinalux 25EC phun trừ nhện gié với liều lượng 1,9 - 2,8 lít/600-800 lít nước/ha đạt hiệu quả 87 - 93%;

+ Thời điểm phun trừ nhện gié đạt hiệu quả trước trỗ 7-10 ngày và khi lúa thấp trỗ.

- Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng phòng trừ nhện gié Steneotarsonemus spinkiSmileytheo hướng tổng hợp để mang lại hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường.

+ Bón phân cân đối NPK theo quy trình bón phân cải tiến để hiệu quả hấp thu phân bón cao. Cấy nhỏ dảnh và mật độ vừa phải tùy theo giống, chân đất để tiết kiệm giống. Giảm chi phí về phòng trừ sâu, bệnh 1-2 lần. Tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.