Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 27/06/2011 20:51 (GMT+7)

Mô hình phòng trừ nhện Gié

Không chỉ có vậy, hiện tại, ở hầu hết các Trạm Bảo vệ thực vật, thường không có kính lúp soi nổi có độ phóng đại cần thiết (20-60 lần) để có thể nhìn rõ loài virut gây hại và các vết hại trên thân, trên gié lúa nhất là khi lúa mới trỗ.

Nhện gié xuất hiện và gây hại cho lúa quanh năm, nhưng nhiều nhất là vụ mùa khi điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn. Nhện gié có tên khoa học là Steneostarsonemus spinki Smiley, có kích thước rất nhỏ, rất khó phát hiện bằng mắt thường. Vì vậy, ngành nông nghiệp đã xây dựng mô hình phòng trừ bệnh nhện gié tại HTX Mạc Hạ, xã Công Lý, huyện Lý Nhân. Thời gian triển khai mô hình từ 11/6/2010- 5/9/2010.

I. Mục đích

- Nâng cao nhận thức cho cán bộ kỹ thuật và nông dân về biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié (IPM nhện gié) có hiệu quả và thân thiện với môi trường.

- Xác định hiệu quả kinh tế của biện pháp quản lý tổng hợp nhện gié nhằm hạn chế sự phát sinh gây hại của nhện gié, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái.

II. Kết quả triển khai thực hiện mô hình

2.1. Một số yếu tố thí nghiệm

Bảng 1: Một số yếu tố thí nghiệm

STT

Chỉ tiêu theo dõi

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

1

Giống lúa

KD 18

KD18

KD18

2

Lượng giống gieo

42 kg/ha

42 kg/ha

55 kg/ha

3

Ngày xử lý hạt giống

11/6/2010

11/6/2010

11 - 14/6/2010

4

Thuốc xử lý hạt giống

CruierPlus 312.5FS

CruierPlus 312.5FS

Enaldo 40FS

5

Ngày gieo mạ

12/6/2010

12/6/2010

12 - 15/6/2010

6

Ngày cấy

29-30/6/2010

29/6-2/7/2010

29/6 - 5/7/2010

7

Mật độ cấy

40

45

45

8

Số dảnh/khóm

2

2 - 4

2 - 4

9

Thời gian lúa trỗ

20-25/8/2010

20-28/8/2010

20/8-5/9/2010

Nhận xét:Trong mô hình phòng trừ nhện gié, chỉ đạo đồng loạt cấy giống lúa Khang dân 18, xử lý hạt giống trước khi gieo, lượng giống gieo 42 kg/ha. Ngày 29-30/6 tuổi mạ 17-18 ngày, thời tiết mát nên đã tiến hành cấy đồng loạt 1 ha IPM (1 ha quản lý dịch hại tổng hại) dưới sự giám sát về mật độ và số dành của các cán bộ kỹ thuật. Do vậy nên sau cấy lúa phát triển đồng đều và cuối vụ trỗ thoát nhanh và gọn hơn. Ruộng ngoài mô hình và ruộng nông dân, cấy to cây và dày hơn. Thời gian cấy các hộ không đồng đều nên thời gian lúa trỗ dài hơn.

2.2. Lượng phân bón trong và ngoài mô hình

Trong mô hình 1 ha IPM, 16 hộ bón phân đồng đều nhau cả về lượng, thời gian bón và cách bón. Theo quy trình xây dựng ban đầu, số lượng và phương pháp bón của từng loại như vôi, lân, kali không thay đổi. Riêng về đạm có sự thay đổi do 30% lượng đạm để bón giai đoạn lúa phân hóa đòng, căn cứ vào mầu sắc lá lúa, số dành/khóm, nhóm đã quyết định không bón mà thay vào đó là phun 1 lần phân bón qua lá để bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng giai đoạn lúa phát triển đòng. 4 ha trong mô hình và khu đổi chứng của nông dân bón theo tập quán cũ, tùy từng hộ về loại phân, lượng phân, thời gian bón và cách bón.

2.3. Điều tiết nước:Cả trong và ngoài mô hình đều giống nhau do tình hình chung của địa phương. Giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ sau cấy 10 và 25 ngày đều cạn nước trong khoảng 5-7 ngày.

2.4. Sinh trưởng của lúa

Bảng 2: Sinh trưởng của lúa trong và ngoài mô hình

Chỉ tiêu

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

Chiều cao cây (cm)

Số dảnh/khóm

01/7/2010

20,56

1,8

20,49

2,85

20,52

3,13

09/7/2010

25,7

4,39

26,02

4,66

27,04

5,21

16/7/2010

37,73

9,39

39,17

9,83

39,54

10,15

23/7/2010

50,81

11,85

52,07

12,14

53,61

13,88

30/7/2010

62,25

10,76

64,12

11,68

65,72

11,94

06/8/2010

72,96

10,56

73,28

10,72

74,88

11,24

13/8/2010

80,93

7,46

81,19

7,68

82,24

8,22

Số bông/khóm

6,47

6,27

7,03

Tỷ lệ bông hữu hiệu (%)

54,60

51,64

50,64

Nhận xét:Chiều cao cây và số dảnh/khóm trong mô hình 1 ha IPM ở các kỳ điều tra luôn thấp hơn so với ruộng nông dân trong mô hình và ngoài mô hình, song tỷ lệ dành hữu hiệu trong mô hình IPM cao hơn 2,96 - 3,96%.

Bảng 3: Diễn biến mật độ nhện gié trong và ngoài mô hình (con/dảnh)

Ngày điều tra

Giai đoạn sinh trưởng của lúa

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Nhện

Trứng

Nhện

Trứng

Nhện

Trứng

09/7/2010

Bắt đầu đẻ nhánh

0

0

0

0

0

0

16/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

23/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

30/7/2010

Cuối đẻ-phân hóa đòng

0

0

0

0

0

0

06/8/2010

Đòng non

RR

0

RR

0

RR

0

13/8/2010

Phát triển đòng

0,6 *

3,3 *

0,71

0,55

1,12

2,59

20/8/2010

Đòng già - Thấp tho trỗ

0,4

0,72

12,1 *

4,78 *

24,06

7,34

27/8/2010

Trỗ xong

2,14

0,84

1,13

1,06

141,60

53,7

04/9/2010

Ngậm sửa

3,13

1,76

1,84

0,93

754,80

418,2

11/9/2010

Chắc xanh - đổ đuôi

6,74

1,22

2,2

0,8

557,33

426,5

18/9/2010

Chín sáp

8,99

1,57

6,78

0,63

553,35

93,9

25/9/2010

Thu hoạch

6,12

0,78

5,12

0,50

142,58

9,63

Ghi chú:*Phun thuốc

Nhận xét:Qua điều tra cho thấy: Nhện gié xuất hiện và gây hại từ giai đoạn lúa đòng non (ngày điều tra 6/8). Mật độ nhện gié rất thấp, sau đó tăng dần. Mật độ nhện gié của ruộng IPM, ruộng của nông dân trong mô hình luôn thấp hơn so với ruộng nông dân ngoài mô hình rất nhiều. Điều này có thể lý giải do trong mô hình IPM chỉ đạo xử lý ruộng trước khi cấy bằng vôi bột và phun trừ sâu cuốn lá nhỏ lứa 6 bằng Regent 800WG đã làm giảm nguồn nhện rất lớn. Đến 13/8, mô hình IPM chỉ đạo phun thuốc đồng loạt trừ nhện gié bằng thuốc Kinalux 25EC, với lượng 100ml/30 lít nước/sào Bắc Bộ (2,8 lít thuốc/800 lít nước phun kỹ ruộng và các bờ xung quanh vào ruộng 2m). 4 ha cấy trong mô hình nhện gié chỉ đạo phun đồng loạt từ ngày 21 - 22/8 bằng thuốc Kinalux 25EC, với lượng 70ml/20-24 lít nước/sào Bắc Bộ (1,9 lít thuốc/550 - 660 lít nước/ha). Kết quả, đến cuối vụ, mật độ nhện gié trong mô hình rất thấp so với ngoài mô hình không phun thuốc trừ nhện gié.

Bảng 4: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện gié trong và ngoài mô hình

Ngày điều tra

Giai đoạn sinh trưởng của lúa

Trong mô hình

Ngoài mô hình

1 ha IPM

4 ha của nông dân

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

Tỷ lệ hại

Chỉ số hại

09/7/2010

Bắt đầu đẻ nhánh

0

0

0

0

0

0

16/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

23/7/2010

Đẻ nhánh rộ

0

0

0

0

0

0

30/7/2010

Cuối đẻ-phân hóa đòng

0

0

0

0

0

0

06/8/2010

Đòng non

2

0,22

5

0,56

8

0,89

13/8/2010

Phát triển đòng

8 *

0,89 *

23

2,56

37

4,11

20/8/2010

Đòng già - Thấp tho trỗ

11

1,22

45 *

5,00 *

48

5,33

27/8/2010

Trỗ xong

12

1,33

44

4,89

61

6,78

04/9/2010

Ngậm sửa

24

2,67

48

6,67

73

55,11

11/9/2010

Chắc xanh - đổ đuôi

35

5,67

51

9,22

100

72,89

18/9/2010

Chín sáp

55

16,77

56

16,44

100

80,67

25/9/2010

Thu hoạch

59

19,1

57

17,11

100

86,89

Ghi chú:*Phun thuốc

Nhận xét:Do chỉ đạo phun trừ nhện gié kịp thời trước khi lúa trỗ nên trong mô hình tỷ lệ hại của nhện gié thấp hơn ngoài mô hình 41 - 43% và chỉ số hại thấp hơn 67,79 - 69,78%. Trong mô hình mặc dù tỷ lệ hại 57-59% xong chủ yếu cấp 1,3. Ngoài mô hình 100% số dảnh bị nhện gié gây hại chủ yếu cấp 7,9, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cuối vụ.

2.5. Các yếu tố cấu thành năng suất lúa

Số bông/m 2trong mô hình thấp hơn ngoài mô hình, song bông to hơn và chắc hơn. Tỷ lệ lép trong mô hình thấp hơn so với nông dân ngoài mô hình 25,2-28%. Năng suất cuối vụ trong mô hình cao hơn ngoài mô hình 1,93 - 2,1 tấn/ha tương đương với 34,6 - 36,5%.

2.6. Hiệu quả kinh tế

So sánh trong mô hình và ngoài mô hình cho thấy hiệu quả khi ứng dụng mô hình "Quản lý tổng hợp nhện gié" đã đem lại: Tổng chi phí giảm hơn so với nông dân 487.000 - 1.918.800 đồng/ha, trong đó: Chi phí về giống giảm 210.000 đồng/ha; chi phí về phân bón của IPM giảm so với nông dân 635.700 đồng/ha; chi phí về BVTV giảm 768.800 - 1,987.100 đồng/ha (1 lần trừ bệnh, 1 lần trừ sâu đục thân, 1 lần trừ rầy cuối vụ); năng suất tăng hơn 34,6 - 36,5% do phun trừ nhện gié đạt hiệu quả cao; lãi trên đơn vị diện tích cao hơn 13.591.000 - 14.002.800 đồng; giá thành sản xuất 1 kg thóc giảm hơn 2.760 - 2.885 đồng.

III. Kết luận

1. Kết quả nghiên cứu của mô hình sẽ góp phần bổ sung thêm đối tượng dịch hại chính trên lúa, phục vụ cho công tác điều tra phát hiện dự tính, dự báo và chỉ đạo phòng trừ tại Hà Nam . Cụ thể: Nhện gié phát sinh, phát triển từ giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh - phân hóa đòng trở đi.

Nếu được thực hiện các biện pháp quản lý tổng hợp ngay từ đầu vụ thì mật độ nhện, tỷ lệ hại và chỉ số hại trong mô hình đều thấp hơn so với tập quán sản xuất của nông dân ngoài mô hình.

+ Triệu chứng gây hại của nhện gié giai đoạn trước khi lúa trỗ là các ổ nhện trong bẹ lá và gân chính của lá và các ổ trứng rầy. Nhưng sau khi lúa trỗ chủ yếu nhện tập trung ở mặt trong của bẹ lá đòng. Các vết cạo gió thường xuất hiện sau khi lúa trỗ 1 tuần và đậm dần đến cuối vụ.

+ Giai đoạn lúa phát triển đòng trước trỗ 10 ngày nếu tỷ lệ hại trên 10%, mật độ nhện và trứng khoảng 5 - 10 con/dảnh, không phát hiện kịp thời để chỉ đạo phun trừ thì mật độ nhện tăng lên rất nhanh đến 1.000 con và trứng/dảnh ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối vụ.

- Đánh giá được hiệu quả của một số loại thuốc trừ nhện gié tại địa phương để khuyến cáo nông dân ở các vụ sau.

+ Thuốc Regent 800WG phun trừ sâu cuốn là nhỏ giai đoạn lúa đòng với lượng 55 g/ha có tác dụng giảm bớt nguồn nhện gié đáng kể;

+ Thuốc Kinalux 25EC phun trừ nhện gié với liều lượng 1,9 - 2,8 lít/600-800 lít nước/ha đạt hiệu quả 87 - 93%;

+ Thời điểm phun trừ nhện gié đạt hiệu quả trước trỗ 7-10 ngày và khi lúa thấp trỗ.

- Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng phòng trừ nhện gié Steneotarsonemus spinkiSmileytheo hướng tổng hợp để mang lại hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường.

+ Bón phân cân đối NPK theo quy trình bón phân cải tiến để hiệu quả hấp thu phân bón cao. Cấy nhỏ dảnh và mật độ vừa phải tùy theo giống, chân đất để tiết kiệm giống. Giảm chi phí về phòng trừ sâu, bệnh 1-2 lần. Tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.