Mô hình nuôi ếch kết hợp nuôi cá
Giữa ếch và cá nuôi trong ao có mối tương tác lẫn nhau. Lượng mùn bã hữu cơ từ phân ếch thải ra khá lớn là nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng cho cá, giúp cá mau lớn, giảm được chi phí, thức ăn trong quá trình nuôi. Mặt khác, cá làm sạch môi trường nước giúp cho ếch sinh trưởng, phát triển. Ao nuôi rộng 3.000m 2, sâu 2m, giữ mức nước trung bình 1,5m. Ao có hệ thống cấp – thoát nước chủ động. Sau khi cải tạo ao, tiến hành thả cá. Thả 3.000 con (1con/1m 2), gồm các giống: rô phi, trôi, mè, chép, trắm cỏ; cỡ 4g/con.
Nuôi ếch trong 25 lồng (20 lồng nuôi chính, 5 lồng dùng để san khi ếch vượt cỡ). Kích thước lồng 2x4x1m. Lồng được cắm sâu dưới mặt nước 5-30cm. Mực nước trong lồng thay đổi tỳ theo tốc độ sinh trưởng của ếch. Mỗi lồng bố trí 6 cọc để giữ lồng. Đáy lồng có đặt xốp để nâng đáy nổi lên, phía trên có cửa cho ếch ăn.
Số lượng ếch thả 9.600 con (60 con/m 2). Trọng lượng bình quân 2g/con.
Quá trình theo dõi, chăm sóc
Đối với cá: Tháng thứ nhất cho ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Tháng thứ hai cho ăn ngày 1 lần vào chiều mát.
Cho cá trắm cỏ ăn cỏ, rau xanh. Lượng cho ăn bằng 30% trọng lượng cá nuôi trong ao. Các loại cá khác sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao và mùn bã hữu cơ phân huỷ từ phân ếch. Ngoài ra, có bổ sung thêm thức ăn tinh gồm cám, bắp, bánh dầu, bột cá, bột mì... nấu chín cho vào nhá để cá ăn.
Đối với ếch: Cho ăn thức ăn công nghiệp dạng viên nổi dành cho cá hiệu Cargill có độ đạm 28-42%.
Sau 2,5 tháng nuôi thu được:
Cá các loại 480kg x 10.000 đồng/kg = 4,8 triệu đồng (tỷ lệ sống 80%, trọng lượng trung bình 200 g/con).
Ếch: 1.209,6kg x 3.000 đồng/kg = 36,288 triệu đồng (tỷ lệ sống 70%, trọng lượng trung bình 180 g/con).
Tổng thu 41,088 triệu đồng.
Trừ chi phí (thức ăn, con giống, thuốc phòng trị bệnh, khấu hao cơ bản, nhân công 31,275 triệu đồng), lãi 9,813 triệu (cá lãi 2,738 triệu đồng, ếch lãi 7,075 triệu đồng).
Nuôi ếch trong lồng kết hợp với nuôi cá trong ao làm tăng hiệu quả sử dụng diện tích mặt nước, đa dạng hoá sản phẩm thu được, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 44 (478), 31/10/2005








