Mặt Kala ở Mỹ Sơn và Bình Định
Trong bộ sưu tập của anh, tôi thích nhất các mặt Kala (có lẽ vì tôi đang vẽ mặt Kala tại tháp G1 Mỹ Sơn), dễ chừng anh có trên 100 tiêu bản. Cũng cần nhắc lại tại đền thờ chính G1 thuộc nhóm G của khu di tích tháp Chăm Mỹ Sơn có đến 52 mặt Kala nhưng hiện nay đã không nhìn thấy. Căn cứ trên vị trí đất cao (gò, đồi núi) của tháp và nhiều chất liệu đất nung để trang trí ở chóp, thân và đế tháp, những nhà nghiên cứu nghệ thuật Chăm xếp các kiến trúc này vào phong cách Bình Định có niên đại kéo dài từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14.
Từ những gợi mở về phong cách nghệ thuật mà chất liệu tạo hình là đất nung, tôi thử tìm hiểu mối liên hệ giữa các mặt Kala ở tháp G1, khu di tích tháp Chăm Mỹ Sơn và ở các tháp Chăm Bình Định.
Theo lời anh Nguyễn Vĩnh Hảo: “Các mặt Kala trong bộ sưu tập có xuất xứ từ lò Gò Sành. Chúng được sản xuất theo chu trình truyền thống như sau: Đất sét pha thêm chất phụ gia nhào với nước tạo thành một khối dẻo dễ nặn, cắt; sau đó tạo hình theo ý muốn rồi đem phơi khô; cuối cùng là qua lửa nung thành gốm. Đối với những sản phẩm của lò khác, sử dụng thêm thủ pháp tạo hình khác như vết cắt, gọt, đục trên bề mặt đồ đất sét đã qua lửa; nghĩa là thành tấm, khối, đã là đồ gốm lúc đó mới chạm khắc”.
Với ý kiến này, tôi đã lưu ý ngay đến các mặt Kala ở tháp G1, chúng được tạo hình bằng hai thủ pháp: đất sét còn ướt (truyền thống) và đất sét đã nung cứng. Với thủ pháp truyền thống thì các mặt Kala tháp G1 đều có kích thước lớn (34cm x 35cm); thủ pháp trên đất qua lửa thì các mặt Kala có kích thước nhỏ (20cm x 22cm). Các mặt Kala trên các tháp ở Bình Định có kích thước rất lớn (40cm x 45cm) quan sát kỹ chắc chắn chúng được tạo hình bằng thủ pháp truyền thống, thể hiện rất đa dạng như mắt nhìn ngang, nhìn xuống, trợn, gò má cao thấp, hoặc rìa bao quanh phần trên mặt có nhiều hoa văn khác nhau; đặc biệt ở mặt Kala kích thước lớn được chạm khắc rất chi tiết ở trán, có đến 3 lớp sừng ở giữa.
Về lịch sử xây dựng nhóm tháp G tại Mỹ Sơn, ở hai tấm bia ký hiệu XXIII – XXIV, tại tháp B1 của nhóm B Mỹ Sơn cho biết nhóm tháp G được xây dựng vào cuối thế kỷ XII dưới triều vua Srifava Harivarman I, thời kỳ người Chăm đã định đô trên vùng đất Vijaya (Bình Định), để hoàn thành nguyện ước là sau khi chống lại quân thù trong và ngoài nước (quân Kh’mer), ông đã cho xây những ngôi đền trên núi Vugvan (đồi tháp G). Vì vậy có khả năng việc sử dụng vật liệu đất nung để trang trí ở tháp G1 được kế thừa từ phong cách Bình Định hoặc do các nghệ nhân ở Bình Định trực tiếp tạo hình. Tuy nhiên các mặt Kala có kích thước nhỏ 10cm x 22cm của tháp G1 hoàn toàn khác với mặt Kala được tạo hình bằng thủ pháp truyền thống với dấu vết chạm, đục nông, gương mặt lại giống 4 con sử tử bằng sa thạch đặt tại 4 góc tháp thì có khả năng tháp này đã từng được trùng thu lại và có một nhóm thợ khác, có thể là người tại địa phương.
Đây là những suy nghĩ ban đầu trong việc tìm mối liên hệ về kỹ thuật và nghệ thuật trong một phần nhỏ kiến trúc của người Chăm, mong nhận được sự đóng góp của các nhà chuyên môn.
_________________
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Thượng Hỷ, Các mặt Kala trang trí trên tháp G1 khu di tích đền tháp Mỹ Sơn, Thông tin Di sản Di tích Quảng Nam, số 15/2006, tr 18 – 24.
- Lê Đình Phụng, Nhóm tháp G Mỹ Sơn qua tài liệu văn bia, Thông tin số 8/2004, tr 7 – 17.
Nguồn: Xưa & Nay, số 280, 3/2007, tr 16








