Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/02/2006 23:09 (GMT+7)

Mạn đàm về Hán Việt trong Việt ngữ

Riêng ở nước ta, các học giả ít người biết lối giản thể, bởi vì từ rất xa xưa, chúng ta chỉ viết theo lối chính thể. Văn chương Trung hoa đã thay đổi rất nhiều với lối văn bạch thoại từ khi Tôn Dật-tiên thành lập Trung hoa dân quốc, nhưng người mình vẫn trung thành với lối văn cổ điển; hơn nữa chúng ta phát âm Hán tự theo lối riêng của chúng ta. Kết quả là ông cha chúng ta đã biến đổi mỗi chữ Hán ra một chữ Việt có gốc Hán. Cũng như người Pháp, Anh, Ðức, hoặc Tây ban nha, vẫn coi các từ có gốc Hi lạp hoặc La-tinh là tiếng quốc gia của họ; chúng ta cũng có quyền nhìn nhận Hán Việt là tiếng Việt Nam trăm phần trăm. Do đó, vào thế kỉ 20, có các ông Ðào duy Anh và Thiều Chửu có công to, khi biên soạn các từ điển Hán Việt. Tuy nhiên Hán Việt bao trùm toàn bộ các từ ngữ Trung hoa là thế, nhưng mới là một phần của Việt ngữ mà thôi, cho nên nhóm Khai trí ở Hà nội (1931), và gần đây nhất có hai ông Trần văn Giáp (1898-1973) và Lê ngọc Trụ (1909-1979) đã cho ra đời những cuốn từ điển gồm cả các từ có gốc Hán Việt và các từ bắt nguồn từ ngôn ngữ dân gian. Mới xem, dễ ngờ là một bước tiến nhảy vọt; nhưng xét ra các từ điển này chỉ tiếp tục công trình các soạn giả thuộc cuối thế kỉ 19, chỉ khác ở điểm là các phần giải nghĩa ngày xưa viết bằng tiếng Bồ, tiếng La-tinh, hay tiếng Pháp, ngày nay đã được thay thế bằng tiếng Việt.

Phải nhận rằng: những cuốn từ điển loại này rất cần thiết, vì sau một thế kỉ từ khi Hán học không còn được phổ biến, thành phần Hán Việt ở Việt ngữ bị dùng sai trầm trọng. Chẳng hạn văn phạm Hán Việt cũng như Hán ngữ, hoặc Anh ngữ đòi hỏi tĩnh từ đi trước danh từ. Không ai viết “year new” hoặc “niên tân” mà phải viết “new year, tân niên”. Thế mà hằng ngày trên sách báo vẫn đầy dẫy những chữ như “Kinh thánh, điểm yếu’“ thay vì “Thánh Kinh và yếu điểm” mà không ngờ rằng “điểm yếu” khi nó là hai từ có gốc dân gian thì có nghĩa là “chỗ thua kém”: khác hẳn với “yếu điểm Hán Việt” có nghĩa là vị trí quan trọng, nhất là khi bàn về quân sự. Ðó là trường hợp từ kép gồm một tĩnh từ và một danh từ. Khi từ kép mang hai danh từ thì thường thường danh từ non kém thuộc “loại” (species) phải đi trước mà tựa vào danh từ khoẻ hơn thuộc “giống” (gender) đứng ở đàng sau. Tỉ như loài người là một giống mà có nhiều loại, thì chữ “thân” gồm bất cứ ai có hình hài con người, nhưng lại chia ra có kẻ làm cha, có kẻ làm mẹ. Cho nên khi nói về người cha người mẹ, phải viết “ phụ thân; mẫu thân”.

Kìa mẫu thân buồn khi tựa của,

Miệng hài nhi nhớ bữa mớm cơm;

Ngọt bùi thiếp đỡ hiếu nam,

Dạy con đọc sách thiếp làm phụ thân...

Sách báo Trung hoa cũng có danh từ “thân phụ, thân mẫu”, nhưng đó là những từ kép thuộc loại tĩnh từ đi trước danh từ đã nói ở trên, và lúc này “thân” có nghĩa là “được yêu” và “thân phụ thân mẫu” là bậc cha mẹ của vị đối thoại được người đương phát biểu ý kiến tôn trọng yêu quý...Nhân tiện nên nói thêm: văn chương Trung hoa tức là gồm cả Hán Việt có thói gọi thân thích của mình bằng “gia” khi người thân thích thuộc hàng trưởng thượng; và bằng “xá” khi người có họ thuộc vai dưới. Do đó mới có những danh từ: Gia phụ, Gia mẫu, Gia huynh, Xá đệ, Xá muội...

Một luật văn phạm khác đòi tránh những từ kép gồm Hán Việt đi bên một từ bình dân. Chẳng hạn “tân khách” là Hán Việt chính thống gồm hai từ đều có nghĩa là “người tới thăm”ø , mặc dù “khách” đã biến thể mà trở thành tiếng bình dân gọi kẻ tới nhà để thăm hỏi. Nhưng không nên nói “vẽ hoạ, ngồi tọa thiền”...Bàn riêng về danh từ Computer được cả thế giới gọi là Ðiện não, Ðiện toán, mà có người kêu là “Vi tính” thì thực là khó chấp nhận. “Vi tính” theo nghĩa Hán việt có nghĩa là “tên họ rất nhỏ”. Nếu hiểu “Tính” theo nghĩa bình dân tương đương với Hán Việt là “Toán” thì danh từ một nửa là Hán Việt, nửa khác có gốc bình dân. Có đổi ra Vi toán cũng vẫn chưa xuôi, bởi vì máy tính rất nhỏ là thứ máy gì?

Như vậy, người ta thấy rõ: ai cầm bút viết Việt văn trước tiên phải phân biệt từ nào có gốc Hán Việt, từ nào có gốc bình dân. Jean Bonet soạn giả cuốn Ðại Nam quốc âm tự vựng xuất bản năm 1899 ghi các từ Hán Việt bằng một dấu hoa mai, để giúp phân biệt với các từ có gốc bình dân. J. Génibrel soạn giả cuốn từ điển khác xuất bản trước đó vào năm 1898 lại ghi các danh từ có gốc bình dân bằng chữ “N” tức là “Nôm”.

Thế nào là “Nôm” ? Nói thực vắn tắt thì “Nôm” là lối viết tiền nhân chúng ta rút một số nét hoặc một chùm nét gọi là “bộ” từ lối viết Hán tự của người Trung hoa để diễn tả vứa tượng hình vừa âm thanh của các từ xuất phát từ dân gian Việt Nam. Chẳng hạn để viết chữ “Năm” thì tiền nhân mượn âm thanh từ chữ “Nam” của Hán Việt rồi chú thêm chữ “Niên” của Hán việt vào bên cạnh chữ “Nam” khi muốn nói về “năm tháng ngày giờ”. Nhưng khi viết số đếm “Năm”, thì chữ “Niên” sẽ được chữ “Ngũ” thay thế...

Vào cuối thế kỉ 17, các nhà Truyền đạo Thiên Chúa có các nhà nho Việt Nam góp sức , đã căn cứ vào tiếng Bồ mà sáng tạo ra lối viết mới mà họ gọi là “Chữ Quốc ngữ” , sử dụng các mẫu tữ La-tinh: “a, b. c...” Lối chữ này đã được giáo sĩ Alexandre de Rhodes hiệu đính để viết ra một cuốn từ điển. Chữ Quốc ngữ rất dễ học dễ dùng, khiến cho suốt thế kỉ 20 không còn ai nhớ tới chữ Nôm nữa. Mãi tới gần đây, người Việt mới thấy Quốc ngữ chỉ diễn âm mà không diễn hình, cho nên cần được chữ Nôm bổ túc, mới hiểu được các từ đồng âm dị nghĩa có đầy dẫy trong tiếng Việt. Hơn nữa cần có các học giả phanh âm ra Quốc ngữ các văn kiện tiền nhân để lại viết toàn bằng Hán tự hoặc Nôm; do đó một phong trào phục hồi Hán Nôm đã xuất hiện không những ở trong nước mà còn lan ra khắp thế giới. Năm ngoái, Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm đã tham gia một số buổi tại Hội thảo Hè ở Đại học Provence (Aix en Provence) bên Pháp. Năm nay hội viên lại tham gia Hội thảo Hè họp nhau ba ngày từ 26 đến hết 28 tháng bảy tại trường Ðại học Maine ở campus Orono.

Trên đây có nói đến công trình “Phanh âm” các bản Nôm ra Quốc ngữ. Trước đây người ta hay nói “Phiên âm ra Quốc ngữ”, nhưng “phiên âm” có nghĩa là chuyển dịch một âm thanh một ngoại ngữ ra âm thanh quen thuộc với độc giả. Chẳng hạn tên thủ đô Hoa kì là Washington được người Bắc Kinh viết ra ba chữ đọc lên vừa na ná như âm thanh tiếng Mĩ, lại thuận tai của họ; thì đó là “phiên âm” . Còn khi diễn âm Bắc kinh bằng mẫu tự la-tinh ra Hua-shèng-dùn thì lại là công trình “Phanh âm”: âm thanh không thay đổi, chỉ có lối viết là khác trước mà thôi.

Người Việt từ Bắc chí Nam cùng nói một thứ tiếng, có điểm di biệt thì cũng thứ yếu. Trước đây, người Pháp cũng nói nhiều thứ tiếng, bên cạnh ngôn ngữ của tộc Franc, còn có một số thổ ngữ, phổ biến hơn cả là hai thổ ngữ Breton và Provencal. Dần dần Pháp ngữ của Corneille, Racine và Molière đã trỡ thành thông ngữ từ Calais đến Marseille, mặc dầu đó đây còn vương vấn một vài vết tích các cổ ngữ. Người Trung hoa đất rộng, nhân chủng tạp hợp: ngày nay họ có chung một lối viết, nhưng dân Trung hoa nói khá nhiều ngôn ngữ khác nhau. Rất nhiều người Hoa ở hải ngoại nói tiếng các nguyên quán là Triều Châu và Phúc kiến Trong nước có hai thứ tiếng được phổ biến nhiều nhất là tiếng Quảng đông và tiếng Bắc kinh. Theo gương nước Pháp, chính phủ mong muốn thứ tiếng Bắc kinh sẽ tràn lan khắp nước, do đó tiếng Bắc kinh còn có tên là tiếng “Phổ thông” (Pu tong).

Người Việt còn hay lẫn lộn khi họ gọi chữ Hán là chữ Nho. Thực ra “Nho” là một thứ đạo làm người phát xuất từ Trung hoa, không rõ là Hoa Bắc hay Hoa Nam?. Bởi vì Nho đạo truyền bá qua Hán tự, thành ra thiên hạ dễ lẫn mà gọi chữ Hán là chữ Nho. Sau đó mới có cụm từ “ông đồ Nho viết chữ Nho”.

Tới đây mới thấy là không dễ mà phân biệt Nho với Hán; Hán tự với Hán Việt, tiếng bình dân với chữ Nôm, Pin yin (Phanh âm) với Fan yin (Phiên âm); Pu tong (Phổ thông) của Bắc kinh với Việt ngữ của Quảng đông (có bộ Mễ) ; và Việt ngữ của Việt Nam (có bộ Tẩu)...Vì Hoa ngữ quá phong phú, Người Trung hoa giỏi Hán tự tới mức nào mặc lòng, khi đọc sách bao giờ họ cũng cầm một cuốn Từ điển. Nếu tiếng Việt gồm cả Hán Việt và các danh từ của dân gian, thì Việt ngữ còn phong phú gấp đôi Hoa ngữ. Như thế chúng ta không nên ngại khi phải dùng từ điển. Học “Chữ Nho” (!) sẽ rất khó nếu người ta theo lối xưa chỉ biết dồi vào trí nhớ, nhưng ai quen với các sách viết theo lối từ điển Khang Hi sẽ có thể tự mình học tập Hán tự. Với tính nhẫn nại, họ sẽ thành công. When in Rome act as the Romans do. Khi học Hán Nôm hãy theo phương pháp của người Trung hoa.

Nguồn: viet-studies.org

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.