Lỵ trực khuẩn, một bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm ở trẻ em
Trực khuẩn lỵ (Shigella) thuộc họ Enterobacteriae, là trực khuẩn gram âm. Chúng không có bao, không di động và không có khả năng tạo bào tử, là vi khuẩn ái khí, nhưng cũng có thể sống trong môi trường thiếu O 2.
Trực khuẩn lỵ có thể sống ở đất được vài tháng, ở ruồi nhặng 2 - 3 ngày, ở đồ chơi, đồ dùng, giường chiếu được vài ngày. ở sữa và chế phẩm của sữa, trực khuẩn lỵ có khả năng phát triển mạnh. Trực khuẩn lỵ dễ bị chết nếu phơi dưới ánh nắng mặt trời, nếu đun sôi sẽ chết trong 10 phút. Lỵ có khả năng sinh sôi và nhiễm thành bệnh rất mạnh.
Người là nguồn lây bệnh chủ yếu, nhất là những người bị bệnh cấp tính. Ở giai đoạn đầu của bệnh sẽ có một lượng lớn vi khuẩn thải ra ngoài theo phân. Tuy nhiên nguy cơ lây nhiễm lại hay gặp ở những người bị bệnh mạn tính vì họ ít được cách ly. Những người này có thể mang mầm bệnh từ vài tháng tới vài năm. Ở động vật, linh trưởng cũng có thể là nguồn lây bệnh.
Bệnh lưu hành trên toàn thế giới. Mỗi năm có khoảng 600.000 bệnh nhân tử vong do lỵ trực khuẩn. 2/3 số trường hợp mắc và tử vong là ở trẻ em dưới 10 tuổi. Bệnh ít gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Bệnh hay gặp ở nơi đông người: trại tị nạn, nhà tù, trung tâm nuôi dưỡng trẻ, trại mồ côi, vùng lũ lụt. Bệnh lưu hành cả ở vùng nhiệt đới và vùng ôn đới.
Tại Việt Nam , bệnh lưu hành trên cả nước và gia tăng trong mùa hè.
Nhận biết bệnh như thế nào?
![]() |
| Hình ảnh trực khuẩn lỵ trên kính hiển vi. |
Trực khuẩn lỵ từ miệng qua dạ dày, tại đây một số bị diệt bởi dịch vị. Số còn lại qua ruột non đến ruột già bám dính vào niêm mạc, xâm nhập qua niêm mạc và gây bệnh. Tất cả mọi người đều có tính cảm nhiễm với bệnh. Trẻ em nhất là trẻ suy dinh dưỡng nguy cơ cao hơn.
Thời kỳ ủ bệnh từ 12-96 giờ (1-4 ngày). Sau đó khởi phát thường đột ngột với triệu chứng đau quặn, mót rặn và phân có nhày máu. ở trẻ nhỏ, trẻ khóc từng cơn khi đi ngoài, đi nhiều lần phân lỏng số lượng ít, phân có nhày, có khi phân toàn máu “như nước rửa thịt” hoặc màu “máu cá”. Có khi phân nhày như mủ và rất tanh.
Các triệu chứng kèm theo là sốt cao, đau khớp, mất nước, nôn hoặc co giật, hôn mê, có thể có sốc (đặc biệt trong thể lỵ nhiễm độc do S.shigae).
Những thể bệnh nhẹ, bệnh nhi dường như chỉ có triệu chứng phân nhày đi ngoài nhiều lần trong ngày.
Chẩn đoán xác định:Dựa vào triệu chứng lâm sàng như đau quặn, quấy khóc khi đi ngoài, phân nhày máu, xét nghiệm phân có hồng cầu, bạch cầu. Chắc chắn nhất là khi cấy phân có trực khuẩn lỵ, để chẩn đoán phân biệt với các bệnh tiêu chảy do virut, do nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, amíp, E.coli...
Những chú ý trong điều trị
Điều trị rối loạn nội môi ở bệnh nhi lỵ rất quan trọng, bù nước và điện giải theo phác đồ khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới tùy theo mức độ mất nước. Chống rối loạn thăng bằng toan kiềm.
Điều trị triệu chứngsốt cao, co giật. Lưu ý cho trẻ ăn đầy đủ, tránh ăn kiêng.
Điều trị căn nguyên: Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ hoặc có thể chọn một trong các thuốc như: trimethoprim-sulfamethoxazol (bactrim, biseptol), nevamycin...
Phòng bệnh cho trẻ bằng cách nào?
Phát hiện sớm và điều trị triệt để là biện pháp quan trọng tránh bệnh không lây lan thành dịch; rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, cắt ngắn móng tay, không phóng uế bừa bãi; vệ sinh thức ăn, nước uống: ăn chín, uống sôi, bảo quản thức ăn tốt; cần lưu ý rửa sạch bình sữa, phơi khô sau khi cho trẻ ăn; diệt ruồi, nhặng; cách ly người bệnh 10 - 15 ngày. Nếu bệnh bùng phát thành dịch cần báo với cơ quan y tế.









