Lợi ích và các nhóm lợi ích: Những vấn đề cần tính tới trong tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Điều rút ra từ câu chuyện này là: lợi ích của mỗi người nhiều khi có thể rất khác với lợi ích của cộng đồng hay cả xã hội. Hơn thế nữa, tổng lợi ích của mỗi người có thể rất khác với lợi ích của cả cộng đồng hay xã hội mà họ là thành viên.
Vấn đề lợi ích chi phối toàn bộ các hành vi ứng xử của các cá nhân, của các cộng đồng cũng như của toàn xã hội. Có thể có các lợi ích của cá nhân xuyên qua các cộng đồng và tập hợp những người có chung lợi ích đó hình thành nên một nhóm lợi ích. Và đối với một chính sách hay dự án, phải cân nhắc tính toán vì nó có thể có các tác động đến lợi ích của cá nhân, cộng đồng, các nhóm lợi ích hay toàn xã hội. Nếu quá trình hình thành và thực thi chính sách và dự án thường là dài thì khả năng vận động để chính sách hay dự án có thể có những điều chỉnh trong mục tiêu của mình tạo ra những tác động khác nhau đến lợi ích của những người chịu tác động là điều hoàn toàn có thể.
Nhìn ngược lại tiến trình phát triển của Việt Nam trong khoảng nửa thế kỷ vừa qua, có thể thấy có hai quá trình tiếp nối nhau khi xác định lợi ích. Quá trình thứ nhất (kinh tế chỉ huy bao cấp) cố gắng đơn giản hoá các loại lợi ích trong xã hội thành 3 loại lợi ích: nhà nước, tập thể và cá nhân để rồi tích hợp dần chúng trong khái niệm lợi ích nhà nước là chủ đạo, là trên hết. Quá trình thứ hai (kinh tế thị trường định hướng XHCN), ngược lại, giải dần lợi ích nhà nước thành lợi ích công, lợi ích của các nhóm, cộng đồng, tổ chức xã hội và lợi ích tư nhân để rồi cố gắng tìm các mẫu số để quy chuẩn lại các lợi ích khác nhau. Quá trình thứ nhất coi như đã kết thúc, nhưng ảnh hưởng của nó trong tư tưởng mọi người, nhất là đối với những nhà lập chính sách, vẫn còn. Quá trình thứ hai đang diễn ra, nhưng nội hàm của các khái niệm chưa được quy định dứt khoát và các thứ tự ưu tiên của các loại lợi ích cũng chưa được xác định rõ ràng.
Chính trong sự giao thoa đó của hai quá trình mà các chính sách, dự án hiện nay đang thể hiện một sự không thật rõ ràng về mặt lợi ích cần đạt được của những nhóm, cộng đồng xã hội khác nhau và điều này đến lượt mình, đưa đến một sự rất lỏng lẻo, nếu không muốn nói là tuỳ tiện trong một số trường hợp, trong khi triển khai thực hiện. Đối diện với một thực tế tồn tại nhiều lợi ích khác nhau thì việc quy chuẩn về lợi ích nhà nước vẫn được đặt lên hàng đầu. Nhưng không ít trường hợp các lợi ích nhóm hoặc thậm chí cá nhân đã được lồng vào trong lợi ích nhà nước theo cách tư duy của quá trình thứ nhất trong khi việc thực hiện nó lại thuần tuý và để đạt được các lợi ích theo quá trình thứ hai. Do vậy xung đột lợi ích có thể xảy ra, điều khiến cho hiệu quả và tác động của chính sách bị ảnh hưởng.
Nếu chúng ta lấy một dự án cụ thể tương đối dễ phân tích, như dự án mở đường vành đai 3 của Hà Nội để thử xem xét thì chúng ta sẽ thấy ở đây đan xen nhiều lợi ích khác nhau. Lợi ích chung của toàn xã hội ở đây rất rõ: kinh tế xã hội phát triển lên rất nhiều nhờ có dự án này. Nhưng lợi ích của các gia đình bị giải tỏa thì không thế: họ không chắc có đảm bảo đời sống của mình tương đương với trước khi bị giải tỏa hay không và tệ hơn, họ không dám chắc có thể kiếm được chỗ ở mới với đồng tiền đền bù hay không. Vì vậy, họ không chịu giao nộp đất và nếu có giao nộp đất thì cũng là giao nộp đất trong tâm trạng khó mà nói là tâm phục khẩu phục dù rằng có thể họ đã rất có lợi khi được đền bù đất theo định giá chập chờn được xác định theo tiêu chuẩn thị trường ảo, chủ quan.
Còn những người triển khai dự án thì ở đây cũng có những nhóm lợi ích khác nhau. Chính quyền cơ sở có lợi ích là giải toả càng nhanh càng tốt. Các đơn vị thi công cũng có chung mục đích. Nhưng những người thực thi công tác giải toả thì lợi ích không rõ ràng: Người của nhà nước, họ có lợi ích giải toả nhanh, nhưng có thể cũng có không ít người có lợi ích cá nhân ở đây để quá trình giải toả đừng nhanh quá.
Ngoài ra, cũng còn có thể có những nhóm lợi ích khác nữa. Ví dụ, nhóm cò đất và kinh doanh đất, đã chắc gì nhóm này muốn con đường hoàn thành nhanh vì khi đó khả năng cung của thị trường đất dọc đường vành đai 3 tăng vọt, điều có thể làm cho giá đất quay trở lại đúng giá thị trường, tức là thấp hơn cả chục lần so với hiện nay thì họ mất lợi. Và ảnh hưởng của nhóm này trên thực tế cũng đâu có nhỏ.
Sự chuyển đổi của Việt Nam từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dẫn đến tồn tại nhiều loại lợi ích khác nhau và điều này là yếu tố quan trọng tạo ra sự cần thiết và tính đặc thù của hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Tư vấn, phản biện và giám định xã hội suy cho cùng là một loại hoạt động tương đối độc lập nhằm đánh giá xem lợi ích mà xã hội thu được từ việc triển khai một chính sách, một dự án cụ thể là như thế nào. Có hai khó khăn ở chỗ chọn tiêu chuẩn nào để đánh giá thế nào là lợi ích xã hội. Thứ nhất, lợi ích xã hội ở đây được đo bằng gì và liệu có thước đo nào chung cho các loại lợi ích khác nhau hay không. Thứ hai, các cơ quan đánh giá khác nhau hoàn toàn có thể đứng trên các quan điểm khác nhau để lựa chọn cho mình một thước đo, và khi đó sẽ lấy gì để đảm bảo đâu là lợi ích thực của xã hội và đâu là lợi ích của một nhóm hay một số nhóm lợi ích nào đó mà thôi.
Có điều, nếu cho các nhóm lợi ích khác nhau tương tác với nhau trong những điều kiện công bằng cho tất cả các bên thì có lẽ bất chấp hai khó khăn nêu trên, chúng ta vẫn sẽ có thể có được lời giải đáp khách quan, đúng đắn cho việc hình thành và thực hiện các chính sách, dự án. Do vậy, sự tham gia của xã hội, hay xã hội hoá, vào quá trình này là cần thiết. Tư vấn, phản biện và giám định xã hội chính là công cụ cụ thể của quá trình minh bạch hoá các lợi ích đa dạng và khác nhau này.
Khi một tổ chức được lập ra, bao giờ người ta cũng nói nó được lập ra để phục vụ lợi ích xã hôi. Nhưng một khi đã được lập ra rồi, thường thì tổ chức đó chỉ phục vụ cho lợi ích của chính mình. Nguyên lý Peter nổi tiếng trong quản lý nói như thế. Vì vậy, lợi ích và các nhóm lợi ích sẽ phải là một trong những chủ đề trung tâm cần đựơc xem xét và nhận định trong các báo cáo tư vấn, phản biện và giám định xã hội.








