Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/06/2014 17:28 (GMT+7)

Lối đi nào cho đổi mới giáo dục đại học?

Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng thể hiện nội lực của quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo đại học nói riêng được đảm bảo bởi 4 yếu tố cơ bản, đó là: Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Chương trình đào tạo; Tổ chức quản lý quá trình đào tạo.

Trong đó, quá trình đổi mới giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để thích ứng và phát triển, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tăng sức cạnh tranh của giáo dục đại học có hai yếu tố cần được đặc biệt quan tâm là: Chương trình và Tổ chức quản lý đào tạo.

PGS.TS Lê Thế Vinh - Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã có bài viết để phân tích chi tiết hai yếu tố cần được đặc biệt nêu trên. Dân trí xin đăng tải bài viết của PGS.TS Lê Thế Vinh để bạn đọc đánh giá và cùng thảo luận chia sẻ.

Bài 1: Đổi mới chương trình đào tạo như thế nào?

Một số nguyên tắc chuyển đổi chương trình đào tạo

Đổi mới chương trình giáo dục đại học và hội nhập quốc tế là một trong những nội dung lớn nhất của việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo tinh thần đổi mới căn bản, việc thay đổi chương trình lần này là nhằm khắc phục sự quá tải đối với khối kiến thức cơ sở, nội dung trùng lắp ở các khối kiến thức chuyên sâu (hình 1 bên dưới), thực hiện chuyển mô hình từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực cho người học, đào tạo nguồn nhân lực hội nhập thị trường lao động quốc tế.

Giảm kiến thức hàn lâm, tăng kiến thức gắn với thực tiễn, ứng dụng. Khi thiết kế chương trình thể hiện được sự chuyển đổi từ dạy kiến thức khoa học sang dạy cho sinh viên tự học, cách tự học, tự nghiên cứu. giáo viên (GV) hướng dẫn cho sinh viên (SV) phương pháp, truyền thụ các kỹ năng qua đó giúp SV biết chủ động chiếm lĩnh kiến thức, biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi kiến thức.

Quá trình học được thay đổi từ việc luyện cho SV kỹ năng làm bài tập sang hướng dẫn các em phân tích, vận dụng, sáng tạo. Chuyển từ phương pháp xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận nội dung (SV học được bao nhiêu kiến thức) sang hướng tiếp cận năng lực (SV làm được những gì sau khi học xong chương trình).

Coi trọng năng lực cốt lõi, khả năng chủ yếu giúp các em có thể thành công trong nhiều lĩnh vực. Chương trình phù hợp với thực tiễn biến động: kinh tế xã hội liên tục thay đổi, yêu cầu con người, nguồn nhân lực cũng phải thay đổi để thích ứng vì vậy chương trình cần có nhiều môn học tự chọn, có tính mở. Công tác phát triển chương trình hàng năm ở các trường đại học sẽ gồm hai việc đó là điều chỉnh nội dung cho tương thích với nhu cầu của thị trường lao động và cập nhật kiến thức khoa học mới.

Cấu trúc chương trình chuyển đổi từ mô hình chuyên nghiệp (cứng) sang mô hình năng lực (mềm). Mục tiêu về năng lực thực hiện quy định nội dung chương trình thông qua các bộ chuẩn năng lực. Từ bộ chuẩn năng lực của chương trình cho phép GV được linh hoạt và chủ động trong tổ chức dạy học, giúp người học đạt được các mục tiêu năng lực, cũng như thuận lợi trong đánh giá kết quả học tập.

Với cách thức tổ chức dạy học ở thành phố, nông thôn, các tỉnh thành, vùng miền là khác nhau, năng lực của người học, đặc điểm văn hóa, kinh tế xã hội ở từng địa phương, vì vậy, GV và nhà trường căn cứ vào bộ chuẩn năng lực, tham khảo tài liệu hướng dẫn giảng dạy để thiết kế nội dung chi tiết, kiến thức gần với cuộc sống thực. Điều này phát huy tính sáng tạo của GV, gắn hoạt động nghiên cứu với giảng dạy. Nên chương trình được thiết kế theo mô hình tiếp cận năng lực phù hợp khi sử dụng ở các địa phương, vùng miền khác nhau.

Kiến thức hội nhập quốc tế trong chương trình đào tạo

Ngoài việc đổi mới chương trình đào tạo theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học như nội dung trao đổi trên đây, khối kiến thức hội nhập quốc tế đóng vai trò quan trọng và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và đưa vào chương trình đào tạo. Mối tương quan giữa khối lượng kiến thức thuộc các chương trình đào tạo đại học ở các trường trên thế giới, khu vực và ở Việt Nam được mô tả ở hình 2.

Với mục đích nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho người học, chương trình được xây dựng trên cơ sở phân tích nhu cầu thực tiễn về kiến thức hội nhập quốc tế. Trong đó, phần kiến thức chung được chú trọng, các môn học như ngoại ngữ, môn thực tập ở nước ngoài.

Nhằm trang bị cho SV kỹ năng độc lập đi lại, tuân thủ luật pháp quốc tế, cũng như những quy định ở nước sở tại. Biết cách trao đổi, chia sẻ thông tin với người nước ngoài cùng phối hợp làm việc, biết và trân trọng nét đẹp văn hoá của đất nước, con người nơi SV đến thực tập.

Với những môn học này, SV được trang bị kỹ năng, kiến thức cơ bản và trở thành người lao động Việt Nam mới, có khả năng hội nhập quốc tế. Do đó khả năng tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp được mở rộng. Lòng yêu nước, ý thức về dân tộc, tự hào hơn về đất nước Việt Nam được thể hiện rõ.

Khối kiến thức địa phương giúp SV hiểu rõ hơn về tiềm năng, thế mạnh về điều kiện kinh tế, xã hội của vùng miền nơi trường đóng, như một ví dụ cụ thể về nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước thông qua việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, kiến thức kinh doanh, quản lý để phát triển kinh tế địa phương. Xây dựng ý thức cho SV có thể sản xuất ra của cải vật chất, tạo ra các dịch vụ và làm giàu trên chính địa phương.

Trên cơ sở năng lực của từng SV, có thể giúp các em định hình rõ khả năng lao động chất lượng cao của bản thân. Từ mức cơ bản, khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thuộc lĩnh vực chuyên ngành được đào tạo. Đến các mức cao hơn, đó là tự tạo ra được việc làm cho chính mình, sản xuất ra của cải vật chất, tạo ra các dịch vụ.

Hoặc khả năng cao nhất mà SV và Nhà trường mong muốn đó là sau khi tốt nghiệp SV có thể trở thành người tạo ra được nhiều việc làm cho chính bản thân và nhiều người khác nữa. Việc làm này là hành động cụ thể xây dựng phát triển kinh tế xã hội tại địa phương và góp phần phát triển đất nước. Thực hiện mục tiêu đào tạo người lao động Việt Nam mới có tư tưởng toàn cầu và hiểu rất rõ địa phương, với khả năng hội nhập quốc tế tốt.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.