Loạn năng bộ máy nhai: Không chết nhưng mệt toàn thân
Chuyện nhỏ... bỏ qua
Thu Trang (sinh viên ĐH Xây dựng Hà Nội) có hàm răng không đều lắm. Tuy nhiên, cô chỉ hơi mất tự tin khi tiếp xúc với mọi người, còn với các bệnh răng miệng thì hoàn toàn yên tâm vì nghĩ rằng mình rất chú trọng vệ sinh, luôn giữ răng sạch sẽ. Một ngày, cô phát hiện ra tiếng kêu ở khớp khi nhai. Hơi băn khoăn, nhưng nhiều người động viên, “không sâu răng là được” nên cô... bỏ qua. Chỉ đến lúc đau mỏi hàm, không ăn được thức ăn cứng, ngại ăn, không há miệng được to... thì cô mới đi khám và biết rằng mình bị “loạn năng bộ máy nhai”.
ThS Phạm Như Hải, Khoa Phẫu thuật mặt hàm, Bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cuba cho biết, nghiên cứu của anh ở nội và ngoại thành cho thấy, có tới hơn 64% dân số Hà Nội có biểu hiện loạn năng bộ máy nhai với các triệu chứng: mỏi hàm, đau miệng khi nhai, cứng khớp vào buổi sáng, không há miệng được to, có tiếng kêu khớp, đau nhức tại khớp thái dương hàm (chỗ gần mang tai)... Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể nhưng ThS Hải ước tính tỷ lệ mắc ở Sài Gòn cũng ở mức tương tự và nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Đa phần người bệnh không đi khám và điều trị vì... ngại. Thậm chí, có trường hợp còn từ chối khi bác sĩ đề nghị điều trị miễn phí!Theo các bác sĩ Răng-hàm-mặt, bất thường ở bộ máy nhai có thể ảnh hưởng đến toàn cơ thể người bệnh. Bộ máy nhai có các thành phần hoạt động chính là: xương hàm, khớp thái dương hàm và các răng trên cung hàm. Hiệu quả nhai sẽ giảm khi có bất thường ở khớp (di lệch, biến dạng đĩa khớp, viêm khớp) hay các răng tiếp khớp với nhau không tốt (mọc lệch, mất răng ...). Điều này dẫn đến các cơ nhai phải tăng cường hoạt động để nghiền thức ăn, lâu ngày làm cho cơ nhai mệt, dẫn đến đau cơ và khớp hàm, há miệng hạn chế...
Bộ máy nhai không tốt khiến việc ăn uống khó khăn hơn. Bình thường, bạn có thể nhai 5 lần liên tục mà không có vấn đề gì. Nhưng khi bị bệnh, chỉ cần nhai 2-3 lần là hàm đã mỏi. Nếu cố tình “nuốt vội” sẽ ảnh hưởng đến dạ dày và toàn bộ hệ tiêu hoá, cơ thể mệt mỏi, sức làm việc kém.
Loạn năng bộ máy nhai còn ảnh hưởng đến khớp thái dương hàm. Người bệnh nhẹ thì nhuyễn sụn khớp; người nặng có thể thoái hóa khớp, dính khớp, tiêu các đầu xương, có hiện tượng xơ cứng khớp hàm.. làm hạn chế sự vận động của cơ nhai. Và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiêu hóa thức ăn của người bệnh.
Răng không đều và những thói quen xấu
Có nhiều nguyên nhân gây ra loạn năng thái dương hàm, nhưng răng không đều là yếu tố trực tiếp và hay gặp nhất. Ngoài ra còn do các nguyên nhân khác như thoái hoá đốt sống cổ, tật chân cao chân thấp, làm việc ở tư thế không thẳng… thì cũng có thể bị loạn năng bộ máy nhai mà không biết. Tâm lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bùng phát bệnh (bởi khi thần kinh căng thẳng, ngưỡng chịu đựng của cơ thể giảm xuống... và bệnh bộc lộ ra), vì thế người ta gọi đây là bệnh của những người có “cơ địa thần kinh yếu”. Loạn năng bộ máy nhai thường xảy ra ở lứa tuổi 18 đến 35 -lứa tuổi nhiều biến động tâm lý, nữ gặp nhiều hơn nam.
Những thói quen khiến cơ thể không thăng bằng đều có nguy cơ dẫn đến mắc bệnh. Hay gặp nhất là tật mút ngón tay, cắn bút, ngủ tì tay một bên, chống cằm khi ngồi… Những tật này sẽ gây lệch khớp cắn ở răng cửa, lệch lạc răng hàm. Bàn tay càng to và mạnh thì hàm dưới sẽ bị đẩy ra sau càng nhiều và răng cửa hàm dưới sẽ nghiêng về bên trong.
Càng để lâu càng khó điều trị
Có nhiều cách điều trị loạn năng bộ máy nhai như: dùng thuốc, đeo máng nhai, vật lý trị liệu, tâm lý liệu pháp, châm cứu… Nếu tổn thương được phát hiện khi mới có triệu chứng đau mỏi cơ thì việc điều trị đơn giản, chỉ cần kết hợp một hai cách là bệnh sẽ khỏi trong thời gian ngắn. Nhưng nếu người bệnh bỏ qua... thì tổn thương trên có thể dẫn đến thay đổi cấu trúc giải phẫu của khớp. Đến lúc cần điều trị thì mọi chuyện trở nên rắc rối, đòi hỏi phải kết hợp nhiều chuyên khoa, thời gian điều trị kéo dài, chi phí cao mà hiệu quả lại thấp.
Thông thường, những người bệnh điều trị ngay khi phát hiện triệu chứng trong vòng 1 tháng thì tỷ lệ thành công là 100%. Nếu chữa trị muộn hơn (sau khi có triệu chứng từ 1 đến 6 tháng) thì tỷ lệ thất bại là 10%, từ 6 tháng đến 1 năm là 20%, sau 1 năm là 30%.
Nguồn: KH&ĐS Số 92 Thứ Sáu 17/11/2006








