Liên kết tiêu thụ nông sản qua hợp đồng: Cần trọng tài phân xử!
“Mạnh ai nấy làm”
Trên thực tế, việc liên kết 4 nhà trong thời gian qua đã đem lại nhiều lợi ích cho bà con và DN. Hiệu quả từ mô hình liên kết giữa Công ty Cao su Đắk Lắk và bà con nông dân là một điển hình. Công ty đã ký hợp đồng với từng hộ dân trồng cao su trong vùng. Công ty đầu tư toàn bộ khâu làm đất, cung cấp cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu... và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm bón, phương pháp cạo mủ cho nông dân. Sau khi cạo mủ, bà con sẽ trả dần vốn đầu tư bằng sản phẩm mủ tươi. Các nông trường thuộc Công ty thu mua toàn bộ số nguyên liệu mủ nước cao su theo giá thị trường để đưa về nhà máy chế biến. Nhờ vậy, Đắk Lắk đã trồng được trên 3.500ha cao su tiểu điền, năng suất 1,1- 1,6 tấn mủ khô/ha. Không ít số hộ có thu nhập 10 - 20 triệu đồng/tháng nhờ cao su tiểu điền.
Nhưng xét một cách toàn diện, đây mới chỉ là điểm sáng hiếm hoi. Mới đây, chuyện “tham vàng bỏ ngãi” của một số hộ trồng mía ở Sơn Hoà (Phú Yên) dẫn đến cảnh Công ty TNHH Công nghiệp KCP quay lưng làm hàng trăm hecta mía khô cháy là bài học rất “nóng” về sự liên kết lỏng lẻo giữa hai nhà. Công ty KCP vốn là nhà độc quyền thu mua mía của bà con. Khi Công ty TNHH Rượu Vạn Phát xuất hiện và cho nông dân vay không điều kiện từ 3-5 triệu đồng/hộ, đồng thời mua dùm những trường hợp nông dân không bán mía được cho KCP thì hàng trăm hộ nông dân đã đổ xô đến vay tiền của Rượu Vạn Phát để trả nợ... bằng mía. Kết quả là, vụ mía này KCP không thu mua mía nữa. Sở dĩ có chuyện nông dân Sơn Hoà tự ý phá hợp đồng là vì KCP luôn thu mua với giá rẻ. Ông Võ Vang ở thôn Nguyên Trang, xã Sơn Hoà, cho biết: “Mấy tháng trời đi lại mới kiếm được cái phiếu chặt mía. Mía chặt rồi lại không có xe. Có khi nông dân chở mía chất đầy cổng nhưng vẫn nằm chờ để cân. Trong khi đó, nếu bán cho Rượu Vạn Phát, chúng tôi được trả giá cao hơn mà còn được trợ cấp thêm 20.000 đồng/tấn vận chuyển và không bị trừ 3,5% tạp chất như bán cho KCP”.
Qua nhiều bài học về sự đổ vỡ, có thể thấy, liên kết giữa DN và nông dân vẫn còn nhiều bất cập, lỏng lẻo và mang tính hình thức. Ngay cả những hợp đồng đã ký kết thì tỷ lệ thực hiện vẫn còn thấp, chỉ khoảng từ 10 - 15%. Ông Tô Xuân Việt, Phó giám đốc Công ty Thành Nông (Hà Nội) đánh giá, chỉ khoảng 5% hợp đồng đã ký kết giữa DN và nông dân thành công.
Nếu Nhà nước làm trọng tài
Xét một cách khách quan, do sản xuất và kinh doanh nông sản vốn gặp nhiều rủi ro, chịu sự “đỏng đảnh” của thị trường nên DN nhiều khi cũng rơi vào tình trạng bị động. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất lại xuất phát từ chính sự chia sẻ lợi ích giữa hai nhà chưa công bằng. Một DN không thể ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trực tiếp mà phải thông qua tư thương đảm nhận việc thu gom. Trong khi đó, đa phần nông dân chỉ canh tác trên diện tích nhỏ lẻ, sản phẩm làm ra ít, chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu, tư duy tuỳ tiện, tự phá hợp đồng khi giá nông sản ngoài thị trường cao hơn giá ký kết khiến DN không mặn mà bắt tay với họ. Nhiều DN khi thấy giá thị trường thấp hơn giá ký kết lại “giở trò” ép giá. Vậy là, DN chờ nông dân có sản phẩm đạt tiêu chuẩn mới ký hợp đồng mua bán, còn nông dân lại chờ DN có sự đảm bảo chắc chắn mới làm ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn.
Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam , cho rằng: “Một quan hệ mà chỉ có một bên thắng, còn bên kia thua, rõ ràng là không thể bền vững được. Hai phía phải xây dựng quan hệ làm ăn dựa trên chữ Tín. Mối quan hệ hợp đồng giữa nông dân và DN chỉ thành công khi cả hai đều có lợi.Việc khuyến khích nông dân và DN ký hợp đồng (thay vì thoả thuận miệng) là một hình thức đảm bảo các bên thực hiện đúng cam kết, hạn chế tối đa các trường hợp đáng tiếc. Hợp đồng dưới hình thức văn bản cũng là một căn cứ rất quan trọng để giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa đôi bên.
Kinh nghiệm sản xuất trên tinh thần hợp tác bốn nhà tại một vài cơ sở, nhất là các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, cho thấy: DN phải có đủ vốn để thuê ruộng của nông dân dài hạn, nông dân vẫn tiếp tục lao động trên đất của mình và nhận thù lao hàng ngày. Mặt khác, chính quyền phải là đầu mối quan trọng, có trách nhiệm thỏa thuận với DN thu mua, bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Nhưng quan trọng nhất, để nâng cao hiệu quả của mối liên kết DN - nông dân, Nhà nước phải đóng vai trò là trọng tài, tạo điều kiện cho DN ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ nông sản cho nông dân, xử lý nghiêm các trường hợp phá vỡ hợp đồng,có thể cho DN vay tín dụng ưu đãi nếu thấy có khả năng hoàn vốn và trả lãi ngân hàng đúng kỳ hạn.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát:
Nông dân phải tổ chức lại thành HTX để “bênh vực” quyền lợi của nhau
Trong sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nhà nông và doanh nghiệp đều cần nhau. Đây là mối quan hệ xương sống, đóng vai trò quyết định thúc đẩy sản xuất. Để đảm bảo xây dựng một mối quan hệ hợp tác bền vững, điều mấu chốt là việc xử lý hài hoà lợi ích của cả hai phía trong quan hệ làm ăn trên cơ sở luật pháp và quy luật thị trường. Nông dân phải tổ chức lại thành HTX hay hiệp hội để “bênh vực” quyền lợi cho nhau và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thực tế ở nước ta đã có những nơi, HTX chuyên ngành, hiệp hội hay doanh nhân xuất thân từ nông dân, đứng ra tổ chức những thể chế phi chính thức, mềm dẻo, chia sẻ rủi ro và hoạt động rất hữu hiệu. Còn doanh nghiệp nông nghiệp phải nhanh chóng đổi mới cách nhìn, cách làm, tự chuẩn bị cho mình khả năng đối phó, loại bỏ căn bệnh khép kín (thiếu liên kết) để vươn lên tồn tại và hoạt động hiệu quả.








