Làng Phương La bàn đạp để nhà Trần tiến về Thăng Long
- Nơi xuất phát đầu tiên là Đông Triều, Chí Linh.
- Đến đời Trần Kinh mới dời về hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (tức vùng Mỹ Lộc, NamĐịnh ngày nay).
- Nhưng liền một đời sau lại có một nhánh chuyển về Hải ấp thuộc huyện Hưng Nhân (nay là Hưng Hà, Thái Bình).
Và chính tại địa điểm sau cùng này mà nhà Trần đã tiến về Thăng Long để giành thiên hạ về tay mình.
Theo tài liệu chính thống được triều đại nhà Trần thừa nhận thì Tức Mặc là quê gốc của dòng họ. Nhưng nơi xuất phát để giành chính quyền lại là Hưng Hà thuộc tỉnh Đông, sau này thuộc về tỉnh Thái Bình. Về điểm này Gs Trần Quốc Vượng đã có một bài phân tích khá chi tiết (1), tôi chỉ xin nhắc lại một vài nét chính.
Trước hết sử sách xưa đã xác định dòng dõi nhà Trần vốn nhiều đời làm nghề đánh cá. Tài liệu chính sử xưa nhất là Đại Việt sử ký toàn thưsoạn dưới đời Lê đã xác nhận điều đó khi mở đầu Kỷ nhà Trần.
“Đời trước của vua là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm), tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Vua là con thứ của Thừa, mẹ là họ Lê, sinh vua vào năm Mậu Dần Kiến Gia thứ 8 triều Lý, tháng 6, ngày 16.” (2)
Như vậy tính đến năm Trần Cảnh lên ngôi (1226) thì dòng họ Trần đã chuyển về Tức Mặc được 4 đời. Bốn thế hệ là khoảng xấp xỉ 100 năm. Nhưng đến đời con của Trần Hấp là Trần Lý và em là Trần Hoằng Nghị thì lại dời về Hưng Hà. Như vậy thời gian đến Hưng Hà là khoảng 60 năm trước khi nhà Trần giành được cơ hội tiến về Thăng Long. Chính tại đây :
“Hoàng thái tử (tức vua Lý Huệ Tông sau này - ĐH) đến thôn Lưu Gia ở miền biển, nghe thấy con gái của Trần Lý có sắc đẹp, bèn lấy làm vợ. Nhà Trần Lý nhờ nghề đánh cá mà trở nên giàu có, người quanh vùng qui phụ, nhân có nhiều người cùng nổi lên làm giặc. Thái tử đã lấy con gái của Lý, trao cho Lý tước Minh Tự, cho cậu người con gái ấy là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Anh em họ Trần họp hương binh để dẹp loạn, rước vua về Kinh sư, khôi phục chính đạo”.
Gs Đào Duy Anh chú thích rằng thôn Lưu Gia nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Nhân (nay là Hưng Hà), tỉnh Thái Bình (3). Như vậy có thể xem Hưng Hà là bàn đạp để nhà Trần tiến về Thăng Long, là một nơi xuất phát thứ hai của dòng họ.
Đến đây ta hãy xem tại sao dòng họ Trần lại có sự di chuyển thường xuyên như vậy. Một trong những nguyên nhân chính của sự di chuyển là do dòng họ Trần vốn làm nghề đánh cá. Cũng sách trên còn dẫn câu nói của thượng hoàng Trần Nhân Tông nói với vua Anh Tông rằng :
“Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu (thuỷ tổ quê ở Hiển Khánh), đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích hình rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc” (4).
Hạ lưu là miền dưới, tức miền biển theo chú thích của Đào Duy Anh. Còn Hiển Khánh thì theo Trần Quốc Vượng là một tước hiệu con truy phong cho cha sau khi lên làm vua (như trường hợp của Lý Công Uẩn và Trần Thái Tông phong cho cha và anh làm Hiển Khánh vương hay Hiển Hoàng), chứ chưa chắc là một địa danh. Vậy cái gốc làm nghề đánh cá ở vùng ven biển là một trong những lý do khiến cho dòng họ Trần qua nhiều đời trước khi định cư chuyển sang làm ruộng, luôn luôn xê dịch qua nhiều địa phương. Đấy là đặc tính sinh hoạt của người dân sông nước, lấy thuyền làm nơi ở chính, còn đất liền chỉ là nơi neo đậu tuỳ hoàn cảnh. Cho đến tận nửa đầu thế kỷ XX, nhà địa lý học Pierre Gourou nghiên cứu về người dân sống bằng nghề cá trên sông nước mà ông gọi là làng thuỷ cơ đã viết rằng :
“Một làng thuỷ cơ chỉ gồm thuyền và bè; dân làng sống trên sông nước và sinh sống bằng nghề đánh cá, chuyên chở trên sông; hoạt động thứ hai này là nghề chủ yếu của các làng nổi trên sông Hồng.
Theo nhận xét của chúng tôi, ở châu thổ Bắc Kỳ có 90 làng và xóm thuỷ cơ với 33.000 dân. Một xóm thuỷ cơ trực thuộc vào một làng ở trên cạn, và trên nguyên tắc chẳng có vấn đề phức tạp nào đặt ra : người ta biết chôn người chết ở đâu và nơi thờ cúng của dân thuỷ cơ cũng là đền miếu của làng mà họ liên kết. Trên thực tế sự việc lại diễn ra khác : thường xóm thuỷ cơ là một làng thuỷ cơ cũ mà trong thế kỷ XIX nhà cầm quyền Pháp đã sáp nhập vào một làng trên cạn, nhưng nó chẳng có liên hệ gì với cái làng đó. Thường thường nó chỉ nộp thuế cho lý trưởng của làng đó thôi. Chính vì thế mà xóm thuỷ cơ Văn Vĩ phụ thuộc vào làng Dịch Vĩ Châu (tổng La Thạch, huyện Đan Phượng, Hà Đông), lại không chôn người chết trên đất làng nó trực thuộc, mà đem chôn trên đất của Nại tử Châu (t.Phương Quan, h.Yên Lãng, Phúc Yên) với tiền góp 1 đồng một vụ mai táng.
Một làng thuỷ cơ tạo thành một đơn vị hành chính độc lập với đầy đủ các cơ quan hành chính của làng, xã và gắn vào một tổng trên cạn. Bắc Kỳ không có tổng thuỷ cơ như ông Robequain đã miêu tả một tổng ở Thanh Hoá.
Đôi khi làng thuỷ cơ có một mảnh đất riêng, ở đó họ xây đình và chôn người chết. Nhưng thông thường làng thuỷ cơ không có đất riêng và họ có một cái đình nổi : đó là một cái thuyền rất to hình dáng giống như thuyền làm nhà ở, dưới mái cũng có đủ lệ bộ giống như một cái đình bình thường : bàn thờ, gươm giáo thờ, các câu đối sơn son thiếp vàng. Hào mục trong làng họp lại ở đó để ăn uống đình đám và bàn luận việc làng. Khi làng thay đổi nơi thả neo, đình đươc kéo đến chỗ mới. Chúng tôi đã thấy những xóm thuỷ cơ có kiểu đình như thế, hình như điều đó xác nhận trước kia những xóm đó là những làng tách biệt”(5).
Đến thế kỷ XX mà còn như vậy, thử hỏi vào thế kỷ XII-XIII những người làm nghề cá trên sông nước như dòng họ Trần di động linh hoạt đến mức nào, chắc chắn họ không hề bị lệ thuộc vào cuộc sống trên cạn, mà chỉ cần thuê hay mua một mảnh đát làm nơi chôn người chết mà thôi, chứ chưa chắc đã cần có chỗ để xây đình như sau này. Chỉ sau khi định cư ở Tức Mặc và Hưng Hà, người họ Trần (và cả những họ khác làm nghề sông nước) mới chuyển dần sang làm ruộng kết hợp với các nghề khác, nhưng đánh cá vẫn là hoạt động quan trọng. Với nguồn gốc làm nghề cá như vậy cho nên dù ở Tức Mặc hay Hưng Hà, những người họ Trần vẫn có thể đi lại liên lạc với nhau dễ dàng vì hệ thống sông ngòi của các sông Hồng và sông Thái Bình là màng lưới nối liền các địa phương đó với nhau.
Vì xuất thân là những người đánh cá nên người họ Trần mới duy trì một tập tục phổ biến của người Việt cổ là xăm mình. Sách Lĩnh Nam chích quáiviết dưới đời Trần, được san định (sửa sang một văn bản cổ) dưới triều Lê, đã viết về tục xăm mình trong “Truyện họ Hồng bàng” như sau:
“Lúc ấy dân sống ven rừng, xuống nước đánh cá thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Đáp : “Giống sơn man và giống thuỷ tộc có thù với nhau, thường ghét nhau cho nên hại nhau đó”. Khiến người đời lấy mực xăm vào mình theo hình Long quân, theo dạng thuỷ quái. Từ đó, dân không bị tai hoạ giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đấy”(6).
Nhưng trải qua nghìn năm Bắc thuộc và nhất là từ khi xây dựng nhà nước tự chủ, người Việt đã trở thành một dân tộc lấy nghề nông làm chính, có lẽ vì vậy tục xăm mình đã phai nhạt dần, sử sách không nói đến tục này dưới triều Lý. Tuy nhiên đối với những người hạ bạn (vùng đồng bằng ở ven sông hay ven biển) còn sống bằng nghề cá, thì đó vẫn là một tập tục được bảo tồn. Phải trải qua nhiều thế hệ định cư làm ruộng, mãi đến đời vua Anh Tông thì các vua Trần mới bỏ tục lệ đó.
Quay trở lại việc định cư của những người dân làm nghề cá họ Trần ở khu Bến Trấn (thuộc đồng đất của xã Thái Phương, huyện Hưng Hà) vào đầu thế kỷ XIII, trong số đó không phải chỉ có người họ Trần, mà còn có những người mang họ khác, vì làng thuỷ cơ không phải chỉ được cấu tạo theo dòng họ giống như cấu tạo của làng Việt nói chung, nhưng họ Trần vẫn là họ chủ đạo chiếm đa số. Từ một làng thuỷ cơ chuyển lên cạn, người họ Trần đã kết hợp với dân bản địa để xây dựng quê hương mới, nơi dừng chân của những người trên sông nước tất phải là một cái bến, tên Bến Trấn xuất phát từ đó.
Vậy hiện tượng làng Phương La hiện có đến 6 miếu thờ các vị thần khác nhau cũng là điều dễ hiểu. Vì đây có thể là nơi thờ các vị thần bản địa trước khi những người họ Trần đến định cư. Đáng tiếc là chúng ta không tìm được thần phả của các vị được thờ ở các đền đó để biết xuất xứ của các thần, nhưng bằng vào tên gọi ta có thể thấy đấy là những thần tự nhiên, như thần gò đống (Đông Cương), thần núi (Sơn Du), thần sấm (Lôi Công)... Những nhóm cư dân bản địa này bị hoà vào dòng họ Trần mới đến, có thể là đông hơn, có tổ chức hơn, và nhất là có thế lực hơn, nên những vị thần của họ không thể trở nên thành hoàng chung cho cả làng được. Cho nên PGS.TS Nguyễn Minh Tường đã có lý khi xác định rằng chỉ có Trần Hoằng Nghị, em của Trần Lý, thuộc thế hệ thứ hai của những người mới lập cư là được tôn làm thành hoàng chung cho cả làng, thờ tại đền Gốc Đa, tức đền Nhà Ông. Có lẽ sau khi đưa quân bản hộ về Thăng Long, Trần Lý đã chuyển về định cư tại Tức Mặc, nên chi tộc các vua Trần đều lấy đó làm quê hương phát tích. Riêng với Trần Hoằng Nghị và con là Trần Thủ Độ, mặc dầu có nhiều công lao trong việc xây dựng vương triều, nhưng vẫn ở lại thái ấp do dòng họ mình xây dựng là khu Bến Trấn. Vì vậy đền thờ của hai vị đến nay vẫn được lập ở vùng này.
-------------------------
1. Trần Quốc Vượng, “Đối điều về nhà Trần - Đức thánh Trần : cội rễ lịc sử và sự phát triển trong bối cảnh văn hoá Đại Việt thế kỷ XIII-XIV”, trong Nhà Trần và con người thời Trần, Viện Sử học và Hội KHLSVN xuất bản, Hà Nội, 2004, tr. 46 – 61
2. Đại Việt sử ký toàn thư,T.2, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2004, tr.434.
3. - Nt- , tr. 420 – 421.
4. - Nt-, tr. 546.
5. Pierre Gourou, Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Hội KHLSVN – Nxb Trẻ, Tp HCM, 2003, tr. 397-398.
6. Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr.24.
Nguồn: T/c Xưa nay, số 267, 09/2006








