Làm gì để nuôi trồng thuỷ sản tuân thủ quy hoạch?
Những bài học cay đắng
Nuôi tôm trên cát ở miền Trung, cá tra – ba sa ở Đồng bằng sông Cửu Long nhiều năm nay phải chịu cảnh long đong từ chính sự phát triển ồ ạt, không theo quy hoạch. Điều đáng nói là, mặc dù đã được cảnh báo từ trước nhưng thực tế này vẫn diễn ra, thậm chí nhiều người còn cho rằng đây là chuyện “thường ngày ở huyện”!
Sản xuất “theo đuôi” thị trường
Nghe thì có vẻ bi đát nhưng đây đúng là tình cảnh của con cá tra – ba sa Việt Nam trong một vài năm trở lại đây. Vòng quay lên giá thì đầu tư nuôi ồ ạt, xuống giá để hầm trống liên tục diễn ra cho thấy sự không chủ động của người sản xuất. Năm 2004, giá cá tra đạt mức kỷ lục (16.000 – 17.000 đồng /kg), nông dân ồ ạt “ra quân” nuôi cá. Tháng 5/2005, giá cá chỉ còn 10.000 - 11.000 đồng /kg, bà con lỗ nặng. Nhưng bài học của ngày hôm qua dường như không có tác dụng, thời điểm cuối năm 2005, đầu năm 2006, hàng loạt người “quay lưng” với nghề nuôi cá da trơn khiến giá cá đầu năm 2007 đạt mức đỉnh điểm, cao nhất từ trước đến nay, 16.000 – 17.000 đồng /kg. Nông dân như ở trên thiên đường, lại bắt đầu rủng rỉnh “đồ nghề” nuôi cá. Đất nuôi cá ở An Giang, Đồng Tháp,... và nhiều vùng nuôi cá trọng điểm của ĐBSCL “sốt” như vàng, thậm chí còn “nóng” hơn việc mua bán bất động sản trong các đô thị lớn. Nhưng chính việc phát triển quá rầm rộ này đang đẩy vùng nuôi trồng thuỷ sản đứng trước nhiều mối nguy lớn.
Tại cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng (TP.Long Xuyên - An Giang), tình trạng người dân đào mới, người nơi khác đến mua đất nuôi cá tra thời gian qua rất sôi động. Hàng chục hecta đất ruộng, bãi bồi nhanh chóng chuyển thành ao cá. Mặc việc phát triển của cù lao từ lâu đã gắn với quy hoạch du lịch. Anh Nguyễn Văn Hoàng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Mỹ Hòa Hưng, bức xúc: “Tuy đã có quy hoạch tổng thể để phát triển du lịch, nhưng cứ đào ao nuôi cá thế này thì tương lai môi trường ở đây phải tính sao?”. Câu hỏi của anh Hoàng cũng là trăn trở chung của nhiều người dân trên cù lao này. Ông Dương Hữu Nghĩa ở thôn Mỹ Thuận cho biết: “Thời gian qua, việc nuôi cá quá nhiều đã ảnh hưởng lớn đến nguồn nước trong khu vực. Một số kênh mương bốc mùi hôi chưa được xử lý”. Và điều đáng lo ngại hơn là tiềm năng du lịch của cù lao xinh đẹp này đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ.
Theo kiểm tra của UBND xã Mỹ Hòa Hưng, chỉ sau đợt cá tra lên giá vừa qua, tại cù lao Ông Hổ đã phát sinh 30 hộ nuôi mới với diện tích hơn 14ha. Không những thế, tình trạng nuôi tự phát ngoài quy hoạch còn diễn ra ở nhiều nơi trong tỉnh như Châu Thành, Châu Phú... Ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho biết: “Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay toàn tỉnh đã phát sinh đào ao nuôi mới trên 200ha, nhưng thực tế còn lớn hơn nhiều, trong đó có khoảng 70% nằm ngoài quy hoạch. Nhiều ao nuôi thậm chí nằm trong vùng quy hoạch nuôi tôm, dẫn đến sự xung đột lợi ích của những người nuôi trồng thủy sản khác. Ngoài ra, rất nhiều hộ nuôi cá không đảm bảo điều kiện về vệ sinh môi trường, nên tình trạng tiếp tục xả nước bừa bãi dẫn đến việc phát triển không bền vững đối với ngành thủy sản trong tương lai”.
Sự phát triển quá “mạnh tay” của người sản xuất, ngay lập tức đã nhận được tín hiệu “trả lời” của thị trường. Sau một thời gian dài trên “đỉnh”, giá cá tra – ba sa lại đi xuống, mở đầu cho một vòng tuần hoàn mới. Theo thống kê của Sở Thuỷ sản An Giang, thời thịnh vượng của những năm 1999-2000, toàn tỉnh có khoảng 4.200 bè cá lớn nhỏ, neo kín bờ sông Hậu. Đến tháng 3 năm nay chỉ còn khoảng hơn 2.200 chiếc (của 1.600 chủ bè), trong đó phần lớn đã bị các ngân hàng quản lý để thu hồi nợ. Hiện nay số nợ của các chủ bè với các ngân hàng thương mại ở An Giang là gần 100 tỷ đồng, trong đó riêng Chi nhánh Ngân hàng Châu Đốc là 25 tỷ đồng. Theo Phó giám đốc Trần Thanh Hùng, khả năng thu hồi nợ rất thấp. Theo nhiều “đại gia” nuôi cá, cá nguyên liệu lúc thừa lúc thiếu không có gì là lạ, như một căn bệnh trầm kha, dây dưa, kéo dài và khó chữa. Vấn đề này chỉ có thể được giải quyết bằng một quy hoạch đồng bộ. Có quy hoạch mới có thể kiểm soát được nguồn nguyên liệu, tránh khủng hoảng thừa hoặc thiếu. Người nuôi phải tuân thủ theo tiêu chuẩn chất lượng do Nhà nước ban hành, nông dân và nhà máy chế biến không thể phá vỡ hợp đồng. Tất cả những điều đó ai cũng biết nhưng việc thực hiện lại không hề đơn giản.
Long đong thân phận con tôm
Việc phát triển ồ ạt, chạy theo phong trào không chỉ xảy ra với con cá tra – ba sa mà cũng đang là tình trạng của các vùng nuôi tôm trọng điểm. Vài năm trước, tôm là chuyện “thời sự” cả trong hội trường và trên cánh đồng, đâu đâu cũng thấy chủ trương, nghị quyết “đưa tôm xuống ruộng” hay “chuyển đổi diện tích đất lúa sang nuôi tôm”. Nhưng giấc mộng chưa tròn thì ở nhiều nơi người nuôi đã “lãnh đủ” do cách làm ăn bừa bãi. Chỉ tính riêng tại tỉnh Bạc Liêu, đã có 120.000ha tôm, vượt chỉ tiêu đề ra cho năm 2010. Mặt đất đang bị đào bới từng ngày, hệ thống thuỷ lợi bị phá nát do người nuôi xẻ ngang, cắt dọc kênh mương nội đồng, muốn cải tạo phải mất gần 3.000 tỷ đồng, trong khi nguồn thu ngân sách của tỉnh chỉ được 1.000 tỷ đồng /năm. Chưa kể mặt ruộng và nguồn nước bị ô nhiễm nặng do người nuôi “vô tư” xả nước thải ra các vùng xung quanh. Hậu quả là hiện nay ở Bạc Liêu nuôi tôm kiểu nào cũng “chết”. Vụ tôm 2006, tỉnh có tới 80% diện tích nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp hoà vốn hoặc thua lỗ, 60% nuôi quảng canh trong tình trạng tương tự. Vấn đề này không phải của riêng Bạc Liêu mà xảy ra ở “toàn vùng” với diện tích lên đến 200.000ha.
Nhưng đây không phải là lần đầu tiên những người nuôi tôm phải gánh chịu hậu quả. Tại miền Trung, từ năm 2002 đến nay, mất mùa, tôm bệnh, tôm chết... liên tiếp diễn ra đã để lại bao cay nghiệt cho vùng cát trắng. Ninh Thuận có diện tích nhỏ nhất trong số các tỉnh duyên hải miền Trung, song nơi đây từng một thời được mệnh danh là “vùng đất hứa” của nuôi tôm trên cát do nuôi được 3 vụ /năm, năng suất lên đến 8-10 tấn /ha/vụ. Nhưng bây giờ vết tích còn lại ở các vùng tôm chỉ là vùng đồi cát nhấp nhô và trơ trụi, không một bóng cây. Phần lớn các ao đều bỏ không, trơ đáy. Các tấm bạt lót bằng nylon đang nứt ra và dần bị cát che phủ.
Mới đây, vùng nuôi tôm trên cát trọng điểm của tỉnh Bình Định tập trung tại 2 xã Mỹ An và Mỹ Thắng (Phù Mỹ) lại xảy ra dịch bệnh. Đầu tháng 3/2007, những ao nuôi đang rất yên bình, những con tôm 30-45 ngày tuổi đang “sởn sơ” bỗng dưng ngửa bụng chết. Mỗi sáng ra, chủ ao nuôi phải vớt ít nhất 50-60 xác tôm. Do hiệu quả kinh tế của việc nuôi tôm trên cát ở Phù Mỹ trong những năm đầu quá hấp dẫn nên mức độ gia tăng của các hồ nuôi nghe mà chóng mặt. Trong năm đầu (2002) khi Sở Thuỷ sản Bình Định xây dựng mô hình thì ở đây mới có 1, 6ha ao nuôi. Thế nhưng chỉ trong 5 năm, đã tăng đến 88ha (số thống kê cuối năm 2006) với 162 ao nuôi. Vùng quy hoạch nhanh chóng bị phá vỡ. Lúc đầu Bình Định chỉ cho phát triển vùng nuôi dọc phía Đông Tỉnh lộ 639, dần dà phát sinh lấn dần lên cả phía Tây. Không chỉ có người địa phương tham gia, mà cả người ngoài tỉnh cũng ùn ùn kéo về thuê ao để nuôi. Theo lãnh đạo của Sở Thuỷ sản Bình Định, đây cũng là căn nguyên dẫn đến tai hoạ cho vùng tôm này. Mật độ ao nuôi dày đặc trong khi các chủ hồ không quan tâm đến việc gìn giữ môi trường nên đã gây mất cân bằng sinh thái. Theo Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản, để khắc phục tình trạng này, trước mắt các địa phương phải xác định cụ thể mật độ đầm nuôi thế nào, quy mô ra sao, nguồn nước cung cấp ở đâu để quy hoạch và thiết kế vùng nuôi tôm hợp lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế, an sinh xã hội và an toàn môi trường. Phải chú ý quy hoạch và thiết kế hệ thống kênh mương cấp thoát nước ổn định bằng bê tông, tăng cường công tác quản lý qui hoạch, đặc biệt với các dự án nuôi quy mô lớn.








