Kỹ thuật quản lý dinh dưỡng theo vùng và việc bón P và K cho đất trồng lúa nước
Kỹ thuật quản lý dinh dưỡng theo vùng (site- specific nutrient management viết tắt là SSNM) dành cho cây lúa đã cho ta một công cụ thiết thực để làm công việc đó. Nếu làm đúng ta có thể tránh được sự nghèo hoá các nguyên tố này trong đất trồng luá. SSNM cho ta kiểm soát một cách hiệu quả nguồn P và K trong đất trồng luá bằng cách xác định nhu cầu phân bón trên cơ sở mức năng suất, sự đáp ứng cuả năng suất luá với phân bón P và K và mô hình cân bằng dinh dưỡng. Trên cơ sở sự khác nhau về năng suất giữa công thức bón đầy đủ NPK và công thức loại trừ P hay K người ta đưa ra khuyến cáo mức bón cuả các loại phân này. Ví dụ trong trường hợp bón phân lân không có hiệu lực trên cây lúa (tức không làm tăng năng suất) mức khuyến cáo bón phân duy trì P được đưa ra ở bảng sau ( xem bảng). Tuy nhiên mức duy trì này không cứng nhắc, mà phải tùy thuộc vào yếu tố đất, cây trồng và tập quán canh tác. Các con số ở bảng trên được xác định tùy thuộc vào mức năng suất, tập quán sử dụng rơm rạ và khả năng hiện hữu cuả đất đối với nguyên tố cần nghiên cứu. Các con số này được tính toán dựa trên cơ sở cân đối dinh dưỡng đầu vào, đầu ra theo mô hình cuả Witt và Dobermann (2004) các thí nghiệm có sự loại trừ P và K được bố trí để đánh giá sự đáp ứng cuả lúa đối với các nguyên tố này. Trong trường hợp cây lúa không có sự đáp ứng về năng suất đối với các nguyên tố này thì chế độ bón phân duy trì được thực hiện. Liều lượng duy trì cao hơn được áp dụng cho những nơi có năng suất cao hơn là do ở đó cây phải hút nhiều hơn các chất dinh dưỡng để hình thành hạt và rơm rạ. Nếu cây lúa có phản ứng tốt với các loại phân bón này ( ở thí nghiệm thăm dò) thì ngoài chế độ bón phân duy trì cần bón thêm mức phân mà cây lúa có đáp ứng. Ví dụ: Ở thí nghiệm thăm dò cho thấy, bón lân ở mức 30 kg/ha thì còn làm tăng năng suất luá, nhưng bón các mức cao hơn không còn làm tăng năng suất nữa, lúc đó ngoài mức bón duy trì, ta cần phải bón thêm mỗi vụ 30 kg P 2O 5nữa.
Đây là việc làm mà bản thân người nông dân không thể tự mình gánh vác được vì nó rất phức tạp và công phu. Công việc này đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành phải đề xuất với Nhà nước có các chương trình hỗ trợ cho các vùng trồng luá. Cần thành lập một mạng lưới quản lý dinh dưỡng theo vùng cho các vùng trồng lúa được phân định theo đặc thù riêng.
Mức bón phân duy trì lân (kg P 2O 5/ha) tùy thuộc vào mức năng suất cần đạt và mức năng suất trên ô không bón lân ( Theo Fairhurst và Witt)
N.suất ô O-P, T/ha | Năng suất cần đạt, T/ha | ||||
4 | 5 | 6 | 7 | 8 | |
3 | 20 | 40 | 60 | * | * |
4 | 15 | 25 | 40 | 60 | * |
5 | 0 | 20 | 30 | 40 | 60 |
6 | 0 | 0 | 25 | 35 | 45 |
7 | 0 | 0 | 0 | 30 | 40 |
8 | 0 | 0 | 0 | 0 | 35 |
* Không đề ra mức NS cao, vượt quá 3 tấn/ha so với mức khởi điểm | |||||
Nguồn: Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long (số 45, tháng 06/2005)








