Kiểm tra vi phạm: Vì sao cơ quan chức năng không mặn mà?
Trước những thực trạng mà Kinh tế Nông thôn phản ánh, không biết rồi đây ai sẽ là người chung sức với nhà nông gánh nặng nỗi lo này.
Trong lúc thị trường thuốc bảo vệ thực vật hiện nay “vàng, thau” vẫn đang lẫn lộn. Nếu nhìn xa hơn, thiệt hại từ nhà nông chỉ là số nhỏ so với mất mát lớn hơn là thất thu của những mùa vụ kéo dài.
Theo Cục BVTV, nửa đầu năm 2004, riêng các tỉnh - thành phía Nam , qua 137 đợt thanh, kiểm tra phát hiện 183 vụ vi phạm. Trong đó vi phạm về sản xuất kinh doanh thuốc quá hạn, kém chất lượng là 44 vụ, vi phạm không đủ điều kiện kinh doanh 57 vụ. Đáng chú ý là có 26 trường hợp kinh doanh thuốc cấm, 2 trường hợp kinh doanh thuốc giả, 16 trường hợp vi phạm về nhãn mác... Xa hơn, trong năm 2003 có 896 vụ vi phạm bị phát hiện, với 195 vụ vi phạm về nhãn mác, 138 vụ kinh doanh hàng quá đát, hàng kém phẩm chất, 17 trường hợp kinh doanh thuốc cấm...
Chế tài chưa hiệu quả?
Theo ông Nguyễn Văn Thiệu, Phó chánh Thanh tra Cục BVTV phụ trách phía Nam, việc thanh - kiểm tra được tiến hành thường xuyên và chặt chẽ. Trên 20.000 đại lý kinh doanh thuốc BVTV trên cả nước hiện nay “bị kiểm tra ít nhất 2 lần/năm, riêng các cơ sở đã đạt “chứng chỉ ISO” thì kiểm tra 1 lần/năm. Hình thức thanh - kiểm tra là đột xuất và trực tiếp. Ngoài ra còn nhiều cuộc thanh tra theo đơn khiếu nại của người dân. Tuy nhiên, vấn đề xử lý vi phạm các cơ sở, đại lý kinh doanh thuốc BVTV đa phần áp dụng theo Nghị định 26/NĐ ngày 19/3/2003 về xử lý vi phạm hành chính. Ở một góc độ nào đó, chế tài của Nghị định chưa đủ sức răn đe. Vì vậy dẫn đến một số cơ sở đã cố tình bày bán các loại thuốc vi phạm. Một chuyên gia trong ngành BVTV tiết lộ, nhiều cơ sở bị phát hiện vi phạm đã tẩu tán hàng sang các địa phương khác để bán. Số thuốc đã quá hạn sử dụng hoặc thuốc giả, thuốc cấm nhưng các đại lý làm ăn bất chính vẫn bán cho người dân bởi thu được lợi nhuận cao. Đó là chưa kể từ lâu nhiều loại thuốc BVTV cấm vẫn lén lút nhập lậu vào thị trường, đa phần xuất xứ từ Trung Quốc. Đối với người nông dân, việc nhận biết các loại thuốc ngoài danh mục là chuyện không dễ. Chỉ cơ quan Thanh tra BVTV mới có thiết bị để thẩm định chuyện này, mà không phải lúc nào cũng làm đến nơi đến chốn. Căn nguyên của vấn đề là ở chỗ số thuốc BVTV bị bắt giữ không có cách tiêu huỷ theo quy định do kinh phí tiêu huỷ quá lớn lại qua nhiều thủ tục phức tạp (lập hội đồng tiêu huỷ, xin kinh phí của UBND địa phương, chọn phương pháp tiêu huỷ, giám sát tiêu huỷ...). Do vậy, một số địa phương đã không mặn mà trong việc ra quân kiểm tra vi phạm(!?)
Bài toán giải quyết chất tồn tự
Cho đến cuối những năm 1990, ngành Nông nghiệp vẫn loay hoay với việc xử lý thuốc BVTV quá hạn, thuốc vi phạm bị tịch thu...
Kế hoạch xây dựng hệ thống kho chứa ở 3 miến Bắc - Trung - Nam được vạch ra nhưng sau đó không thực hiện do việc xuất hiện các lò tiêu huỷ tư nhân. Tuy nhiên giá dịch vụ thuốc BVTV lại quá cao (70.000 đồng/kg) nên không khuyến khích các đơn vị tham gia. Cho đến đầu năm 2000, một Công ty tư nhân tại TP.HCM quyết định đầu tư lớn vào ngành này, đó là Công ty TNHH Môi Trường Xanh với giá nhận tiêu huỷ rẻ hơn (30.000 đồng/kg), và nhanh chóng thu hút nhiều khách hàng, đặc biệt các khách hàng nước ngoài muốn tiêu huỷ thuốc BVTV quá hạn của mình. Công ty Môi Trường Xanh đã đầu tư đến 10 tỷ đồng để xây dựng một nhà máy xử lý theo công nghệ hiện đại của Nhật Bản. Quy trình tiêu huỷ thuốc BVTV khá phức tạp: thuốc sau khi mang về phải phân loại (nước hoặc rắn) rồi đưa vào lò đốt ở nhiệt độ 1.100 độ C. Đối với thuốc dạng lỏng, phải qua một công đoạn nữa là đưa vào phòng sang chiết vào bồn lớn rồi dùng máy phun vào lò. Sau khi đốt lần 1, khói được đưa vào lò để đốt lại lần 2, rồi dẫn qua dàn giải nhiệt, tháp hấp thụ, sau đó đưa ra ngoài. Khói đưa ra ngoài đã được tẩy sạch 100%. ông Trần Thanh Hà, đại diện HĐQT Công ty Môi Trường Xanh cho biết “Công ty đã và đang mở rộng đầu tư xây dựng 3 nhà máy tương tự tại Hải Dương, Tây Ninh và Khánh Hòa để góp phần thực hiện mục tiêu mà Cục BVTV giao cho: tiêu huỷ tất cả thuốc BVTV bị bắt giữ tồn kho từ hàng chục năm nay ở các tỉnh, thành”.
Nguồn: Kinh tế Nông thôn - Số 27 (461) - Ngày 4/7/2005, trang 13








