Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 20/06/2008 23:53 (GMT+7)

Khoa học Việt Nam đang bơi ở ao nào?

Các công bố quốc tế của Việt Nam rất ít

Viện Thông tin Khoa học (Institute for Scientific Information – ISI, website: www.isinet.com ), có trụ sở tại Mỹ, tiến hành các thống kê trên cơ sở gần 10.000 tạp chí khoa học tiêu biểu được chọn lọc trong tổng số hơn 100.000 tạp chí đủ loại trên thế giới. Theo ISI, các nhà khoa học Việt Nam đã công bố từ đầu năm 1997 đến hết năm 2007 tổng cộng 4.667 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuẩn mực, chỉ bằng 1/3 số bài của Malaysia, 1/5 của Thái Lan, dưới 1/11 của Singapore, 1/45 của Hàn Quốc, 1/110 của Trung Quốc và 1/700 của Mỹ.

Xét riêng về công bố quốc tế từ nội lực (tự ta làm được), sự tụt hậu của chúng ta lại càng lớn hơn, chỉ là 20%, còn lại là do hợp tác với quốc tế. Điều đó cho thấy các nhà khoa học của chúng ta vẫn còn phải dựa nhiều vào hỗ trợ quốc tế.

Tại sao đội ngũ khoa học công nghệ của chúng ta tuy đông về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng? Tư duy nào đã cản trở bước tiến tới hội nhập của khoa học Việt Nam những năm qua? Không ít người có đủ mọi bằng cấp và chức danh ở ta thường tìm cách lảng tránh các chuẩn mực khoa học nghiêm túc và khách quan với ngụy biện rằng chúng ta còn nghèo, trình độ chung còn thấp, rằng họ thực hiện các đề tài “nghiên cứu ứng dụng” không đòi hỏi phải có công bố quốc tế như một số “nghiên cứu lý thuyết”? Lập luận đó vẫn cứ được bám giữ trong nhiều năm.

Đâu phải tiền nào của ấy!

Năm 2006, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đăng được 41 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế. Cũng trong năm đó, chỉ riêng các nhà nghiên cứu của Trường ĐH Phúc Đán ở Thượng Hải đã đăng được 2.286 bài.

(Nguồn: Báo cáo của nhóm chuyên gia Trường ĐH Harvard)

Động lực nghiên cứu chất lượng để công bố quốc tế ở Việt Nam hiện nay mới chỉ xuất phát từ hai nguồn bên ngoài: Cơ hội được ra nước ngoài cộng tác hay làm thuê (như ở các ngành toán và vật lý) và từ các đề tài nghiên cứu ứng dụng trong nước được quốc tế tài trợ và có sự lãnh đạo của chuyên gia nước ngoài (như trong các lĩnh vực khoa học sự sống). Động lực công bố quốc tế nội lực gần như không có: từ các đề tài nghiên cứu ứng dụng trọng điểm kinh phí lớn cấp bộ ngành, cấp Nhà nước tới các đề tài nghiên cứu cơ bản kinh phí nhỏ hơn, các đầu tư chiều sâu, phòng thí nghiệm trọng điểm, các tiêu chuẩn chức danh, bằng cấp, trên thực tế, đều phớt lờ đòi hỏi cần có về công bố quốc tế. Điều đó dẫn tới số lượng ít ỏi các kết quả nội lực đạt chuẩn mực quốc tế và chất lượng rất thấp của các đề tài, chức danh khoa học.

Có ý kiến cho rằng tiền nào của ấy, nhưng thực tế cho thấy số ít các đề tài trong nước có được công bố quốc tế lại thường không phải là các đề tài được cấp nhiều tiền.

Cần tăng kinh phí nghiên cứu là đúng, nhưng hãy nhớ rằng cho dù kinh phí cho khoa học từ ngân sách Nhà nước được tăng mạnh hằng năm, nay đã vượt 400 triệu USD/năm, số bài báo quốc tế từ nội lực vẫn chỉ đứng xung quanh con số 80 bài/năm trong suốt 10 năm qua – một mức hiệu quả có lẽ vào hàng thấp nhất trên thế giới. Nói rằng ta thiếu đầu tư thiết bị nghiên cứu – cũng đúng, nhưng hãy xem bao thiết bị đắt tiền và 18 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia đã được đầu tư nhưng không được khai thác hiệu quả?

3 cốt lõi: Môi trường, chuẩn mực, chính sách

Để đổi mới khoa học, việc tiên quyết phải làm là thiết lập môi trường khoa học lành mạnh dựa trên các chuẩn mực quốc tế đã được xác lập thông qua các bài báo ISI, các phát minh, sáng chế, sản phẩm mới hữu dụng - đóng vai trò như tiêu chuẩn thị trường trong kinh tế. Mọi chương trình khoa học, các đề tài nghiên cứu, các bằng cấp và chức danh khoa học đều phải được xây dựng và được đánh giá tính hiệu quả trên cái nền này.

Cử người đi đào tạo thôi chưa đủ, chúng ta cần có chính sách đồng bộ để hấp dẫn những người tài trở về và tạo điều kiện thuận lợi để họ phấn đấu nghề nghiệp, có được thu nhập thỏa đáng dựa theo kết quả chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh các trường ĐH đại trà đáp ứng nhu cầu đại chúng giai đoạn hiện nay, chúng ta cần phải xây dựng các trường ĐH nghiên cứu đầu tàu, hoặc trước tiên là các nhóm nghiên cứu đầu tàu trong các trường ĐH...

Số bài báo công bố quốc tế (ISI) các ngành qua 11 năm (1/1997-12/2007)

Lĩnh vực

Việt Nam

Thái lan

Mã lai

Hàn quốc

Trung quốc

Y học lâm sàng

Vật lý

Động thực vật học

Toán

Kỹ thuật

Hóa

Nông nghiệp

Địa chất

Môi trường

Khoa học xã hội

Vi sinh

Sinh học & Hóa sinh

Miễn dịch học

Khoa học vật liệu

Dược

Sinh học phân tử&ditruyền                          

Kinh tế

Khoa học thần kinh

Khoa học máy tính

Tâm lý học

Khoa học không gian

Liên ngành

765

709

595

466

327

301

212

185

177

176

159

114

110

   98

   69

   45

   

    35

   15

   14

4897

   681

2 233

   156

1904

2618

1 023

   327

   878

   563

   900

1 144

   678

   766

   709

   275

   

    112

   167

   426

     86

     63

     16

1 705

   833

1 119

   151

1 457

3 195

   654

   175

   640

   265

   269

   599

     89

   888

   276

     79

   

    142

     46

   387

     75

25 050

32 313

  5 798

  4 490

26 867

31 644

  2 907

  2 204

  2 730

  1 911

  4 861

12 148

  1 467

20 946

  5 619

  3 395

  

   1 605

  3 464

12 194

     792

  1 125

    107

34 430

86 679

17 761

20 468

53 203

127 749

   4 382

16 431

10 071

   4 277

   3 752

20 037

  2 006

60 197

  7 356

  6 081

  

   2 845

  4 800

17 355

  2 070

  4 903

  1 708

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.