Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 23/01/2007 15:32 (GMT+7)

Khoa học phải thay đổi cách chơi để bước lên sân chơi quốc tế

Sân chơi quốc tế về khoa học

Những cuộc đấu thầu giành hợp đồng kinh tế hoặc khách hàng chính là sân chơi của giới doanh nhân. Thương trường là chiến trường, ở đây thắng - thua là khốc liệt.Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin trong vài năm gần đây đã toàn cầu hoá và thay đổi hẳn diện mạo của các đấu trường quốc tế này. Mặt khác, do quá trình toàn cầu hoá mà ngày nay chất lượng sản phẩm và dịch vụ của những nhà cung cấp công nghệ thường ngang ngửa với nhau. Từ TV, tủ lạnh và các máy móc gia dụng khác đến các thiết bị công nghệ hiện đại, tinh vi đều nằm trên cùng một mặt bằng chung. Những ai tham gia các cuộc đấu thầu thiết bị công nghệ hẳn phải nhận ra điều này. Sản phẩm của các đại gia sàn sàn như nhau, bởi họ cùng đứng trên mặt tiền của khoa học thế giới.

Muốn không ngừng đổi mới công nghệ, đất nước phải tiếp cận được mặt tiền này. Nếu không, doanh nhân Việt nam chưa thể bước lên vũ đài thi đấu với các đại gia công nghệ vốn có truyền thống và thương hiệu lâu đời. Vào WTO chẳng khác nào một con thuyền vươn ra đại dương, mọi người hăng hái lên thuyền, còn nhà khoa học vẫn nhởn nhơ trên bến! Lý ra chính họ phải ngồi ngay vào khoang lái, vì ta vẫn nói KHCN là động lực của nền kinh tế.

Không đưa chất lượng nghiên cứu khoa học lên ngang tầm với mặt tiền trên thế giới, chúng ta cứ phải lẹt đẹt xuất khẩu các sản phẩm thô, hàng gia công, hoặc hàng chế biến của các công ty nước ngoài. Doanh số xuất khẩu có thể tăng nhanh và đầy ấn tượng như hiện nay, nhưng giá trị gia tăng lại rất ít. Rỡ bỏ rào cản khi gia nhấp WTO càng biến đất nước trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hoá và công nghệ của các đại gia nước ngoài!

Đâu là mặt tiền khoa học thế giới? Đó chính là các tạp chí và hội nghị khoa học quốc tế, sân chơi đích thực của giới nghiên cứu khoa học. Với đủ cung bậc khác nhau, mà lại không khốc liệt như sân chơi của giới doanh nhân, đây là sân chơi rộng rãi của mọi nhà khoa học, ai cũng thắng, miễn là đủ trình độ chen chân vào đó. Cho nên, số người xuất hiện trên các hội nghị và tạp chí khoa học quốc tế có uy tín đặc trưng cho trình độ khoa học và dân trí của một quốc gia. Muốn biết ngọn núi cao bao nhiêu, ta phải nhìn lên đỉnh, không ai lại đi ngắm vô số các hòn đá ở dưới chân.

Khoa học Việt nam đang ở đâu?

Không phải chỉ có các nước tiên tiến Âu Mỹ, mà ngay cả những nước chậm phát triển cũng nhận ra điều này. Hình 1 dưới đây ghi lại số bài báo (article) quốc tế tính trên một triệu dân của 9 nước Đông Á. Việt nam vào loại thấp nhất (xem hình 1). Điều này không bất ngờ, nếu lưu ý rằng bình quân thu nhập của ta cũng vào loại thấp nhất trong vùng. Nhưng những thông điệp đằng sau các con số đó mới là chuyện đáng lo ngại!

Thứ nhất, đại đa số các bài báo quốc tế của ta là do hợp tác với nước ngoài, số bài báo làm bằng nguồn nội lực trong nước rất ít, đến nay chỉ còn 13%. Trong khi số bài báo do hợp tác tăng đều theo quy luật cấp số nhân (hàm mũ), phản ánh sự tăng trưởng về đội ngũ, đầu tư và xu hướng hội nhập ngày càng gia tăng, thì số bài báo dùng nguồn nội lực, có địa chỉ thuần tuý Việt nam, vẫn dẫm chân tại chỗ, quanh con số 80 trong mười năm gần đây, thậm chí đang suy giảm. Việc tăng đầu tư cho KHCN lên 2% ngân sách nhà nước từ năm 2000 đến nay, cùng với hàng chục triệu USD đầu tư cho các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, hầu như chưa để lại một dấu ấn gì.

Hình 1. Số bài báo quốc tế tính trên một triệu dân của chín nước Đông Á

Hình 1. Số bài báo quốc tế tính trên một triệu dân của chín nước
Đông Á

Cần phân biệt sự khác nhau giữa bài báo dùng nguồn nội lực và qua con đường hợp tác. Làm một công trình khoa học bằng nguồn nội lực của nước mình, nhất là các công trình thực nghiệm và côngnghệ, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về trang thiết bị, cơ sở vật chát, đội ngũ, kinh phí v.v… mới hòng chen được vào một chỗ đứng nào đó trên mặt tiền thế giới, mà xung quanh toàn là các nướctiên tiến và giàu có. Mặt khác, chính nhờ các công trình dùng nguồn nội lực này mà ta mới đào tạo đội ngũ và trực tiếp tác động đến kinh tế, đời sống của đất nước, những mục tiêu không thể đạt đượckhi nhà khoa học một mìmh lên đường đến làm việc tại một cơ sở nghiên cứu có thương hiệu trên thế giới.

Thứ hai, đa số (60%) bài báo dùng nguồn nội lực của Việt nam là về Toán và Vật lý. Những chuyên ngành không cần nhiều đầu tư, và ít khi được "xã hội" quan tâm như Toán và Vật lý lý thuyết lại sản xuất ra nhiều công trình ngang tầm thế giới. Vậy đại bộ phận tiền của rót vào rất nhiều đề tài khoa học được xem là thiết thực đối với nền kinh tế đã đi về đâu? Tìm đâu để thấy chất lượng đầu ra của các phòng thí nghiệm trọng điểm được xem là những "cú đấm" lên nền kinh tế?

Hình 2. Trong khi số bài báo do hợp tác quốc tế tăng liên tục trong hơn mười năm

Hình 2. Trong khi số bài báo do hợp tác quốc tế tăng liên tục trong hơn mười năm

Thứ ba, chỉ có 40% số bài báo quốc tế ít ỏi của chúng ta là xuất phát từ các trường đại học, trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 90%. Họ biết tập trung nghiên cứu khoa học về các trườngđại học để nâng cao chất lượng đào tạo. Ta lại không làm như vậy.

So sánh đại học hàng đầu ở Thái Lan và Việt Nam

Đại học Chulalongkorn quá tương phản với hai đại học quốc gia hàng đầu của ta trên hình 3 ắt sẽ gây sốc. ĐH Chulalongkorn là đại học công, năm 2004 có 18 khoa và một số trung tâm với 19.313 sinh viên đại học. ĐHQG Hà nội gồm bốn đại học và ba khoa độc lập với 25.000 sinh viên hệ chính quy. ĐHQG Tp Hồ Chí Minh gồm bốn đại học với 32300 sinh viên hệ chính quy (theo sách Giáo dục ĐH Việt Nam , NXB Giáo dục, 2004). Không có số liệu đáng tin cậy về đội ngũ giảng viên, Giáo sư, Tiến sỹ để so sánh. Song về chất lượng của đội ngũ, thì số bài báo quốc tế trên giản đồ hình 3 cho thấy khoảng cách một trời một vực giữa hai nước.

Hình 3. Bài báo quốc tế làm tại Đại học Chulalongkorn, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Tp Hồ Chí Minh trong mười năm gần đây

Hình 3. Bài báo quốc tế làm tại Đại học Chulalongkorn, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Tp Hồ Chí Minh trong mười năm gần đây

Số bài báo làm tại ĐH Chulalongkorn tăng đều theo cấp số nhân, cứ sau mỗi năm tăng 25%, sau 38 tháng lại tăng gấp đôi. Năm 2006, từ đại học nảy đã sản sinh ra 332 công trình quốc tế, gấp 4,6lần toàn bộ số công trình quốc tế làm tại Việt nam (72). Tăng nhanh theo quy luật cấp số nhân chứng tỏ một cộng đồng đầy nội lực, có tích luỹ và đầu tư ổn định, có sự gắn bó hữu cơ trong những mụctiêu chung. Nó hoàn toàn tương phản với hai đại học Việt Nam , nơi mà nghiên cứu khoa học tầm quốc tế là hoạt động "a ma tơ", được chăng hay chớ, của một số ít người, không phải là mối quan tâm củacả cộng đồng. Hậu quả là sau hơn mười năm, số lượng công trình vẫn giẫm chân tại chỗ, thậm chí đang tụt dài. Năm 2006, mỗi đại học hàng đầu của chúng ta chỉ có 5-7 bài, mà chủ yếu là về toán và vậtlý lý thuyết. Vậy người Việt hay người Thái đang đi nhầm quỹ đạo?

Phải thay đổi cách chơi

Phải đánh cái dấu hỏi trên để xem xét lại toàn bộ "cuộc chơi" hiện nay trong nghiên cứu khoa học. Trong thời buổi hội nhập toàn cầu này, không ai lại chơi theo kiểu riêng của mình. Không có lý do gì để tự hào về cách chơi của mình khi mà chúng ta đang tụt xa phía sau người Thái vốn nằm sát ta về địa lý và trình độ phát triển. Vả lại, hàng năm nhà nước vẫn rót đều hai phần trăm ngân sách cho KHCN, năm nay chắc phải lên đến trên 300 triệu USD. Mà có tăng tiền lên nữa, tình hình vẫn không chuyển biến.

Từ nhiều năm nay, không ít người đã nói lên sự tụt hậu quá xa của chúng ta. Nhưng chưa hề có một động thái nào chứng tỏ những hồi chuông báo động đó đã đến tai những người quyết định chính sách và một bộ phận không nhỏ trong giới khoa học. Mong sao những bức tranh đáng buồn trên đây giúp chúng ta tháo gỡ những rào cản và mặc cảm trong từng người để đưa khoa học và đại học trở lại đúng quỹ đạo phát triển của thế giới.

Mục tiêu này lại không vượt quá xa tầm tay của chúng ta. Theo sách Khoa học và Công nghệ Việt nam(2003, 2004), hàng năm có trên 7000 bài báo được công bố trên các ấn phẩm trong nước. Xem qua tóm tắt những bài báo đó do Viện Thông tin Khoa học Kỹ thuật ấn hành, tôi không khỏi ngạc nhiên nhận ra rằng không ít bài có thể tiếp cận mặt tiền thế giới. Chỉ còn một khoảng cách nữa là công trình có thể được đóng dấu chất lượng quốc tế, tại sao các nhà khoa học lại chùn bước?

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.