Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 14/01/2008 15:37 (GMT+7)

Khi nào không khí Hà Nội bị ô nhiễm nặng?

Hà Nội đã vào mùa đông, cũng chính là thời kỳ mà không khí bị ô nhiễm nặng bởi thời tiết trong chế độ xoáy nghịch (anticyclone) với gió mùa đông bắc thường hạn chế sự phát tán của khí quyển. Hà Nội thuộc diện những thành phố có không khí bị ô nhiễm nặng, có thể chỉ kém một số thành phố ở Trung Quốc và ấn Độ. Đặc biệt, bụi khí PM10 (kích thước của hạt bụi nhỏ hơn 10 mm) có hàm lượng vượt ngưỡng cho phép nhiều lần theo quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN). Vào những ngày này về ban đêm, ai sống ven các trục lộ giao thông chính của Hà Nội sẽ phải hít vào phổi hơn 500 mg (= 0,5 mg) bụi PM10 mỗi giờ, cao hơn 10 lần so với mức cho phép trung bình hàng năm theo TCVN (mức ô nhiễm ban ngày thấp hơn). Hàm lượng hai chất khí độc là SO 2và NO 2cũng đều rất cao.

Bài toán ô nhiễm không khí

Muốn giảm thiểu ô nhiễm không khí cần phải nghiên cứu hàng loạt bài toán khoa học về thựcnghiệm, quan trắc và mô hình hoá để hiểu rõ hiện trạng, quy luật diễn biến các chất ô nhiễm và nguồn phát ra chúng. ô nhiễm không khí luôn biến động theo thời gian và thay đổi từ nơi này sang nơikhác, nên muốn giảm thiểu nó, trước hết phải biết rõ khi nào và nơi nào không khí bị ô nhiễm nặng nhất. Đối với người dân, nắm được các quy luật này sẽ giúp tránh hít thở nhiều chất ô nhiễm vào phổimột cách chủ động.

Để giải đáp câu hỏi thứ nhất (khi nào?), cần phải quan trắc hiện tượng ô nhiễm không khí một cách chính xác, hệ thống và liên tục trong nhiều năm liền. Trên thực tế, Hà Nội chưa làm được chuyện này. Trong số 6 trạm quan trắc tự động được Hà Nội đầu tư từ năm 2000 qua nhiều con đường khác nhau, chỉ có trạm đặt tại vườn khí tượng Láng của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Đồng bằng Bắc Bộ (TTKTTV) hoạt động tương đối ổn định, cho ra một số kết quả “khả dĩ xử lý được” để từ đó có thể tiếp cận đến câu hỏi trên. Trạm này quan trắc tự động PM10 và 8 chất khí khác, trong đó có 4 chất nằm trong tiêu chuẩn chất lượng không khí (CLKK) quốc gia là SO 2, NO 2, CO và O 3. Cũng tại vườn khí tượng Láng, từ năm 1998, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) đã quan trắc thường xuyên (không tự động) PM10, PM2,5 (bụi có kích thước nhỏ hơn 2,5 mm) và xác định hơn 20 thành phần hoá học trong khoảng 1.000 mẫu bụi thu góp tại đây, từ đó đã nhận dạng được các nguồn phát ra chúng. Đặc biệt, đã đánh giá được phần đóng góp của bụi đi theo các khối khí gió mùa từ bên ngoài biên giới. Ngoài bụi PM10, nhóm nghiên cứu này còn quan tâm đến bụi PM2, 5 vì nó có khả năng lan truyền rất xa và gây tác hại lớn đến sức khoẻ con người do chứa nhiều độc tố và có khả năng xuyên sâu vào các phế nang trong phổi. Hiện nay chỉ có nước Mỹ đặt ra tiêu chuẩn cho PM2,5.

Còn để giải đáp câu hỏi thứ hai (nơi nào?), gần đây Chương trình Không khí sạch Thụy Sỹ - ViệtNam (SVCAP) đã tiến hành hai chiến dịch lấy mẫu khí thụ động (passive sampling) tại 120 vị trí trên địa bàn Hà Nội vào mùa đông và mùa hè năm 2007. Bản đồ ô nhiễm không khí trong 8 quận nội thành sẽđược công bố trong thời gian gần đây.

Dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ nhất dựa trên kết quả quan trắc của hai thiết bị đặt tại vườn khí tượng Láng của TTKTTV và Viện NLNTVN. Chúng tôi sẽ tập trung nhiều hơn vào bụi PM10, là yếu tố ô nhiễm nặng nhất ở Hà Nội. TCVN và thế giới quy định hàm lượng PM10 tính trung bình cho cả năm không được vượt quá 50 mg /m 3(tiêu chuẩn năm) và tính trung bình cho từng ngày phải thấp hơn 150 mg /m 3(tiêu chuẩn ngày). Hà Nội vượt xa cả hai tiêu chuẩn này.

Năm nào nhiều bụi?   

Theo kết quả quan trắc của Viện NLNTVN tại trạm Láng từ năm 1999 đến 2006 (xem bảng 1), nămnào hàm lượng trung bình năm của bụi khí PM10 cũng đều vượt tiêu chuẩn 50 mg /m 3. Năm cao nhất lên đến gần gấp đôi tiêu chuẩn (1999, 2004), nhưng cũng có năm bụi ít hơn. Vậy quy luật nàochi phối sự thăng giáng này?

Những nghiên cứu của Viện NLNTVN cho thấy, bụi nhiều hay ít là do lượng mưa hàng năm chi phối. Năm nào mưa nhiều thì bụi ít, và ngược lại, như được phản ánh trên giản đồ hồi quy ở hình 1. Nếu không kể đến hai năm 2005 - 2006, thì từ phép hồi quy tuyến tính dưới hình 1 có thể suy ra rằng, trong thời gian từ 1999 đến 2004, cứ lượng mưa hàng năm tăng lên 100 mm, thì lượng bụi khí PM10 năm đó sẽ giảm đi 1,8 mg/m3. Nhưng từ hai năm 2005 - 2006 trở đi, hàm lượng trung bình năm của PM10 không tuân theo quy luật trên nữa, mà thấp hẳn, như hai ngôi sao trên hình 1, có lẽ do khu vực xung quanh trạm Láng đã sạch hơn và ít công trình xây dựng hơn. Đây là một kết quả khá lý thú, có nhiều ý nghĩa thực tiễn, song cần tiếp tục quan trắc trong nhiều năm tới mới có thể khẳng định.

Tháng nào nhiều bụi?

Trong từng năm, bụi PM10 lại thăng giáng theo mùa và tháng. Năm nào cũng vậy, mùa đông PM10cao hơn mùa hè, cao nhất vào tháng 12 đến tháng 1, thấp nhất vào tháng 7 - 8. Nếu tính hàm lượng bụi trung bình hàng tháng, thì tháng 12 có thể lên đến trên 150 mg /m 3, trong khi tháng 8chỉ còn khoảng 50 mg /m 3, thậm chí thấp hơn (hình 2). Quy luật diễn biến theo mùa phản ánh khả năng phát tán của khí quyển. Trong chế độ xoáy nghịch phổ biến về mùa đông ở miền Bắc đượcchi phối bởi trung tâm cao áp Siberia, không khí không phát tán lên cao mà có xu hướng nén xuống (giáng động), bụi phát ra khó bị phát tán và pha loãng. Hiện tượng nghịch nhiệt sát mặt đất lại thườngxảy ra, nhất là vào những tháng mùa khô, gây tích tụ các chất ô nhiễm gần mặt đất. Ngược lại về mùa hè, mặt đất bị đốt nóng, không khí bốc lên cao (thăng động), tạo điều kiện phát tán và pha loãngcác chất ô nhiễm dễ dàng hơn. Ngoài ra, mưa nhiều trong mùa hè cũng làm rửa trôi các chất ô nhiễm.

Ngày nào nhiều bụi?

Mức độ phát tán và rửa trôi bụi của khí quyển cũng luôn thay đổi từ ngày này sang ngày khác. Hàm lượng PM10 do đó mà luôn diễn biến. Hình 3 minh hoạ kết quả quan trắc PM10, SO 2và NO 2cho từng ngày trong mùa đông 2003 - 2004 tại trạm quan trắc tự động của TTKTTV ở vườn khí tượng Láng. Các hình tam giác trên trục hoành ghi lại những ngày có gió mùa đông bắc tràn qua Hà Nội. Những sự kiện này (được gọi là front lạnh) có thể dễ dàng nhận biết khi thấy nhiệt độ giảm đột ngột (xem giản đồ trên cùng ở hình 3).

Từ tháng 10.2003 đến tháng 3.2004 có tổng số 13 đợt gió mùa đông bắc tràn qua Hà Nội. Vài ngàytrước và sau khi front lạnh đi qua, không khí ít bị ô nhiễm nhờ có gió mạnh, nhiều khi kèm theo mưa và khí quyển bị xáo động. Vào những ngày này, cả PM10, SO 2và NO 2đều thấpnhất. Nhưng chỉ vài ngày sau khi gió mùa tràn về, hàm lượng các chất ô nhiễm không khí bắt đầu tăng cao, đạt đến cực đại vào giữa hai đợt gió mùa kế tiếp nhau. Bụi PM10 thường vượt tiêu chuẩn trungbình ngày (150 mg/m 3), và tình trạng các chất ô nhiễm đồng loạt tăng cao này thường kéo dài liên tục trong nhiều ngày liền, gây tác hại cộng năng (synergy) đến sức khoẻ, nhất là người giàvà trẻ em. Hàng năm, có 40 - 50 ngày bụi PM10 tại vườn khí tượng Láng vượt tiêu chuẩn ngày. Tại các nơi khác gần mặt đường giao thông, số ngày vượt tiêu chuẩn chắc chắn còn cao hơn rất nhiều.

Hệ thống cao áp xoáy nghịch Siberia hoạt động mạnh nhất vào tháng 12 - 1. Trong tháng 12.2003 có ba đợt gió mùa kế tiếp nhau làm cho không khí bị ô nhiễm nặng trong hàng chục ngày liền (hình 3). Thời tiết trong giai đoạn này thường khô, ban ngày trời nắng, về đêm lạnh, thường xuất hiện nghịch nhiệt do bức xạ về ban đêm, chênh lệch nhiệt độ ngày - đêm khá lớn, gió yếu, gió đông bắc thịnh hành. Kiểu thời tiết khô lạnh này được hình thành do không khí lạnh hành trình một khoảng đường dài qua lục địa Trung Hoa trước khi tràn qua Bắc Bộ (hình 4).

Nhưng gần cuối mỗi đợt gió mùa, quỹ đạo các khối khí thường hướng ra biển Đông sau đó thâmnhập vào Đồng bằng sông Hồng qua Vịnh Bắc Bộ, mang lại kiểu thời tiết ấm và ẩm trong vài ngày, làm cho các chất ô nhiễm phát tán dễ dàng hơn. Đó là những ngày 5, 6, 18, 24, trước khi các đợt gió mùamới tràn về ngày 7, 19 và 25 (hình 4). Vài ngày sau đó, tuy các khối khí lạnh đi qua lục địa Trung Hoa, song do gió mạnh kèm theo mưa nhỏ và khí quyển bị xáo động làm cho các chất ô nhiễm tiếp tục bịphát tán và pha loãng, kéo dài các cực tiểu ô nhiễm vốn hình thành trước khi gió mùa tràn về (hình 3).

Các quỹ đạo được tính trực tuyến do Cơ quan Khí quyển và Đại dương của Hoa Kỳ (NOAA) theo mô hình HYSPLIT.

Giờ nào trong ngày nhiều bụi?

Để trả lời câu hỏi này, trước hết có thể xem hình 5 mô tả diễn biến hàng ngày của 4 chất ô nhiễm lấy trung bình trong hai tháng đầu mùa hè (tháng 5) và đầu mùa đông (tháng 11) năm 2003. Đối với NO 2và PM10 (hai yếu tố ô nhiễm đặc trưng cho phát thải từ xe cộ trong thành phố), ngày nào cũng xuất hiện hai cực đại vào lúc 8 giờ sáng và 19 giờ tối. Đó chính là giờ cao điểm giao thông (kết hợp với các yếu tố thời tiết). Còn đối với SO2, cực đại buổi sáng xuất hiện muộn hơn (~10 giờ), lúc các lò đốt than hoạt động mạnh. Không khí thường ít bị ô nhiễm sau 12 giờ khuya đến gần sáng. Nhưng ít nhất vẫn là vào buổi trưa, từ 12 giờ đến 2 - 3 giờ chiều. Điều này có thể bất ngờ đối với nhiều người! Đặc biệt với NO 2- khí thải liên quan đến xe cộ, mức chênh lệch trung bình giữa buổi trưa và chập tối lên đến 3 - 4 lần. Mặc dù buổi trưa là thời gian các nguồn phát hoạt động mạnh, nhưng cũng chính là lúc khí quyển bị xáo động mạnh nhất do mặt đất bị đốt nóng. Đối với O 3(giản đồ cuối cùng, hình 5), bức tranh hoàn toàn ngược lại. Cực đại xảy ra vào lúc 2 - 3 giờ chiều, khi phản ứng quang hoá dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời tạo nên nhiều O 3nhất trong ngày. Xin nhắc lại, những kết luận nêu trên là xu hướng trung bình trong hai tháng 5 và 11. Bức tranh có thể đậm nét hơn khi xét từng ngày và từng tháng riêng lẻ. Đặc biệt vào mùa khô, khi có nghịch nhiệt do bức xạ về ban đêm, các chất ô nhiễm có thể dâng lên rất cao sau lúc chập tối và tình trạng ô nhiễm về đêm này có thể kéo dài đến gần sáng. Vào những ngày này, mức ô nhiễm lúc chập tối có thể cao hơn lúc giữa trưa đến 10 lần. Người già và trẻ em nên tránh đi ra ngoài đường phố sau lúc chập tối.

Thay lời kết

Những điều trình bày trên đây cho thấy tầm quan trọng của việc quan trắc CLKK chính xác, liên tục và hệ thống, từ đó mới có thể đánh giá đúng đắn mức độ ô nhiễm và tìm ra quy luật diễn biến cũng như nguồn phát ra chúng để có biện pháp giảm thiểu. Rất tiếc, chúng ta vẫn chưa hài lòng với tình trạng hiện nay, khi mà các thiết bị quan trắc ô nhiễm không khí hiện đại được đầu tư khá tốn kém lại chưa phát huy hiệu quả. Hiểu rõ nguyên nhân của tình trạng này sẽ giúp chúng ta tìm ra những khiếm khuyết trong quản lý các thiết bị khoa học chính xác ở nước ta. Đó là chưa kể đến tình trạng các kết quả quan trắc chưa được xử lý kịp thời để rút ra quy luật diễn biến của môi trường và tìm giải pháp khắc phục. Rất cần một cái nhìn nghiêm túc hơn, và đặt đúng tầm hơn vai trò của khoa học môi trường ở nước ta. Đây là một hướng nghiên cứu khoa học đa ngành, vừa thiết thực lại rất hiện đại. Một hướng khoa học không có gì quá cao xa với cuộc sống khi mỗi giờ người Hà Nội phải hít vào phổi ngót 5.000 mg CO, 100 mg bụi PM10 và 50 mg các khí thải độc hại như NO 2và SO 2. Nhưng cũng đừng nên xem thường tầm “cao siêu” của khoa học này, như ai đó trong hàng quan chức từng phát biểu: “Hạt bụi có đáng gì mà phải nghiên cứu!”.

Nguồn: Hoạt động khoa học, 12/2007

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.