Khí hậu, vũ khí vô hình
Những trận Đại thần phong... đem lại chiến thắng
Cách đây trên 2.550 năm, đế quốc Ba Tư (Ba Tư – tên của Iran cổ) với sức mạnh quân sự, đặc biệt là kị binh và hải quân hùng mạnh vào loại bậc nhất thế giới, đã chinh phục khắp châu Âu và Tây Á. Tuy nhiên với Hy Lạp, các triều đại Ba Tư chưa hoàn toàn bình định nổi.
Năm 550 trước Công nguyên, Ba Tư xuất hàng triệu quân cùng với chiến thuyền, quyết tâm tiêu diệt bằng được đế quốc Athena (Hy Lạp cổ). Quân đội Ba Tư chiếm được phần lớn lãnh thổ khiến quân đội Hy Lạp lâm vào thế đường cùng đành rút về đảo Salamit tử thủ.
Ngày 23/9/550 TCN, đích thân nhà vua Ba Tư Shosis hạ lệnh cho hơn 600 chiến thuyền cỡ lớn của mình nhằm eo biển Salamit tiến đánh hòng tiêu diệt gọn quân Hy Lạp.
Mặt biển dậy sóng, chiến thuyền Ba Tư rợp trời cờ xí băng băng lao vào Salamit nhỏ bé. Khi chỉ còn cách chiến hào của Hy Lạp vài ba hải lý bỗng mặt biển nổi trận cuồng phong cực mạnh khiến những tay lái chiến thuyền và quân lính Ba Tư không tài nào lái đúng hướng và kịp hạ buồm tránh nạn, toàn bộ hơn 600 chiến thuyền Ba Tư trong khuôn khổ vịnh Salamit chật hẹp tự xô đẩy va đập vào nhau tan vỡ.
Quân đội Hy Lạp thừa cơ xông ra tiêu diệt nốt hơn 200 chiến thuyền Ba Tư còn lại. Xác lính Ba Tư và ván thuyền bị vùi sâu dưới đáy biển hoặc làm mồi cho chim trời cá nước, chấm dứt giấc mộng xâm lăng của Shosis -đế chế Ba Tư đầy ngạo mạn, đồng thời cứu cho Hy Lạp khỏi họa xâm lược.
Năm 1274, Hốt Tất Liệt xuất đội hải quân đánh bộ tinh nhuệ nhất với hơn 900 chiến thuyền rẽ sóng Thái Bình Dương tiến đánh Nhật Bản mở đầu cho cuộc Đông chinh.
Nhưng khi đoàn thuyền chiến của quân Nguyên gần đến bờ thì nước Nhật được “trời phù” nổi hai trận phong ba cực mạnh khiến cho chiến thuyền quân Nguyên không có cách nào tiến vào nước Nhật, mà lại xô đập vào nhau vỡ tan tành.
Đô đốc tổng chỉ huy quân Nguyên căm giận tuốt gươm chỉ lên trời thét lớn: “Thiên đình! Ta sẽ tính sổ với ngươi” rồi tự sát. Không cam chịu thất bại, năm 1281 một lần nữa Hốt Tất Liệt lại dốc 500 chiến thuyền thực hiện Đông chinh Nhật Bản lần thứ 2.
Quân dân Nhật Bản tiếp tục chiến đấu oanh liệt, họ xây tường đá, boongke công sự ven biển và dựa vào hang động trong dãy núi đá Cửu Long thuộc dãy Cửu Châu để chiến đấu chống trả quân Nguyên.
Cuộc chiến kéo dài hơn 1 tháng, đôi bên mỏi mệt, lương thảo cạn dần, đặc biệt phía Nhật Bản thiệt hại nặng nề. Đang trong tình thế "ngàn cân treo trên sợi tóc" bỗng trời nổi cơn bão lớn liên tục 4 ngày tàn phá mọi vật trên biển làm cho chiến thuyền quân Nguyên bị tan tành, lương thảo và binh lính vùi dưới biển sâu.
Đến đêm ngày thứ 4 rạng ngày thứ 5 trời bỗng đổi gió, quân đội Nhật Bản lợi dụng cơ hội ngàn năm có một xông ra dùng hỏa công tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tàn quân địch.
Tháng 8/1588, đang lúc trời quang mây tạnh bỗng một cơn bão với sức gió giật cấp 12 có lúc trên cấp 12 nổi lên “phù trợ” cho nước Anh đánh bại “Hạm đội vôđịch” của Tây Ban Nha xâm lược.
Tương quan cuộc chiến khá chênh lệch: phía Anh chỉ có 30 chiến hạm và một số thương thuyền với vũkhíthô sơ, phía Tây Ban Nha có 130 chiến hạm.
“Hạm đội vôđịch” Tây Ban Nha khi còn cách đích chừng 10km bỗng bão tố nổi lên mỗi lúc một mạnh làm cho Hạm đội Tây Ban Nha không kịp trở tay và chỉ trong nửa ngày, 73 chiến hạm Tây Ban Nha cùng toàn bộ binh lính tinh nhuệ của họ bị nhấn chìm xuống biển.
Rạng sáng hôm sau gió bất thần đổi hướng, quân đội Anh thừa cơ tung 30 chiến hạm và tất cả thương thuyền trên biển băng băng lao về phía địch. Họ dùng hỏa công, pháo hạm bao vây tiêu diệt thêm 49 chiến hạm và bắt sống 8 chiến hạm cuối cùng của “Hạm đội vôđịch” Tây Ban Nha, chấm dứt mộng xâm lăng của kẻ xâm lược, đồng thời bảo toàn nước Anh mà không bị hao xương tổn máu.
Nhà Đường suy vong một phần dokhíhậu
Trong hơn 300 năm tồn tại và phát triển của nhà Đường, khíhậuTrung Quốc nhìn chung bình thường, số năm khíhậudị thường giá rét ác liệt mùa hè tuyết phủ dày mặt đất hàng mét không nhiều, số năm mùa đông oi nồng không có tuyết cũng chỉ có 19 năm.
Từ năm 712 liên tiếp trong gần 5 năm khíhậuđột nhiên thay đổi, từ ấm áp chuyển sang ẩm ướt giá lạnh khủng khiếp, tàn phá mùa màng cây cối, bầu trời u ám quanh năm nhưng không có mưa rào khiến nông dân không cày cấy, gia súc chết hàng loạt, đặc biệt các dân tộc phương Bắc chịu ảnh hưởng nặng nề nhất buộc người Thiết Đan, Nội Mông, Tân Cương Duy Ngô Nhĩ, Mông cổ... suốt từ cao nguyên Thanh Hải đến Hắc Long Giang phải rời bỏ bản làng di cư xuống miền Trung Nguyên ngày một nhiều tạo ra mất cân bằng sinh thái, nạn mất mùa đói kém kéo theo nạn cướp bóc, trộm cắp và bùng phát những cuộc giao chiến giữa người phương Bắc với phương Nam.
Trong bối cảnh đó, Đường Huyền Tông không những không có biện pháp khắc phục kịp thời mà còn để cho quan tham nhũng, dân đói khổ vì mất mùa lại bị sưu cao thuế nặng, khiến cả nước nổi loạn, đặc biệt Huyền Tông quá sai lầm không nghe lời của các trung thần nên đã sử dụng An Lộc Sơn -một nịnh thần sau trở thành gian thần vào giữ trọng trách triều đình.
Về sau An Lộc Sơn liên kết với Sử Tư Minh tạo phản làm loạn, sử cũ Trung Quốc gọi là “Loạn An Sử” và cho rằng một trong những nguyên nhân làm cho nhà Đường suy bại là do khởi nguồn từ khíhậuấm áp đột nhiên chuyển sang giá lạnh khủng khiếp.
Nước Nga và Liên Xô ba lần thoát khỏi họa xâm lăng nhờkhíhậu
Giá lạnh ở Nga thường xuyên xảy ra với nhiệt độ thấp nhất khoảng -10 đến -15°C. Tuy nhiên, những năm tháng khíhậukhắc nghiệt kỳ bí không nhiều nhưng người dân Nga vẫn chịu đựng nổi.
Năm 1709 có thể coi là năm giá lạnh ghê gớm nhất ở nước Nga. Mùa xuân năm đó, đích thân Quốc vương Thụy Điển Charles XII thống lĩnh quân đội của đế quốc Thụy Điển chọn nước Nga tiến công.
Từ thế kỷ XV Thụy Điển được coi là cường quốc quân sự hùng mạnh nhất châu Âu với quân số lên đến hàng triệu chiến binh chính quy tinh nhuệ được trang bị nhiều vũkhítiến công đầy uy lực.
Trong khi đó, quân đội Nga vừa ít vừa kém về trang bị lại không kinh qua chinh chiến trên chiến trường. Dưới sự chỉ huy tối cao của Peter I quân Nga không thể chống trả sức tiến công vũbão của Thụy Điển họ đành phải thực hiện kế sách “vườn không nhà trống” tạm lánh khi kẻ thù đang mạnh.
Peter I biết khíhậuở Nga năm đó có dấu hiệu khác thường, ông ta chờ thời cơ phản kích. Không ngờ năm đó nhiệt độ Moskva xuống thấp kỳ lạ (tháng 7 nhiệt độ ban ngày xuống -40 0C, ban đêm có lúc -45 0C), trời u ám ẩm ướt khiến cho quân đội Thụy Điển không sao chịu đựng nổi vì bệnh tật quật ngã hàng loạt binh lính, phần vì lương thảo khánh kiệt, cuối cùng Thụy Điển đành rút lui.
Thừa cơ Peter I dốc toàn lực tốc chiến truy kích quân thù. Kết cục 40.000 quân Nga đã tiêu diệt gọn 30.000 quân Thụy Điển tại mặt trận Poltava lịch sử.
Năm 1812, với tham vọng chinh phục hoàn toàn châu Âu, Napoléon đem 600.000 quân đội tinh nhuệ tiến công nước Nga, quyết tâm bắt nước Nga phải ký kết hiệp ước đầu hàng vôđiều kiện ngay tại thủ đô Moskva.
Người Nga biết lượng sức mình chưa thể chống lại Napoleon nên đành thực hiện vườn không, nhà trống, phá sạch đốt sạch tất cả những gì quân thù có thể lợi dụng rồi rút lui khỏi Moskva.
Quân đội Napoléon vào thành tuyệt nhiên không có bóng người, không có nước uống, không có điện, khắp thành phố là bãi hoang tàn khổng lồ. Hơn 2 tháng chờ đợi vẫn không thấy sứ giả Nga đến ký đầu hàng.
Nôn nóng và mệt mỏi, bệnh hoạn và tâm lý chán chường cộng thêm giá rét kỳ lạ năm đó. Quân đội Napoleon không có đủ quần áo ấm đành rút chạy. Quân Nga truy kích làm cho quân Pháp phần bị chết đói, chết rét, phần bị bệnh hoạn và phơi xác dưới làn đạn pháo của Nga, 600.000 quân Napoléon tan tác chỉ còn không đầy 150.000 tên thoát thân về đất mẹ.
Năm 1941, phát xít Đức phát động cuộc đại công kích Liên Xô mang danh hiệu “Cơn bão” với ý đồ trong 10 ngày chiếm được Moskva. Hitler không chịu rút bài học thất bại của Thụy Điển và Napoléon năm xưa, chủ quan ngạo mạn khinh thường người Nga, bỏ qua yếu tố khíhậuthời tiết ác nghiệt đem đại binh không có áo bông, giày ghệt, hùng hổ kéo vào thủ đô Moskva, nào ngờ đâu năm đó nhiệt độ ở đây xuống -35 0C, và số phận Hitler không khác Napoléon và Charle XII năm nào. Liên Xô đại thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhất trong lịch sử loài người.
Hung Nô xâm chiếm Châu Âu vì đâu?
Người Hung Nô vốn gốc rễ là dân Trung Quốc sinh sống từ thế kỷ 3 TCN đến thế kỷ 5 SCN trên cao nguyên bao la phía bắc giáp Trường thành, phía đông giáp dãy Altai và Thiên Sơn.
Nơi đây quanh năm khíhậukhắc nghiệt; mùa hè ngắn, mùa đông dài, thường xuyên có gió và bão tuyết rất mạnh, nhiệt độ xuống thấp khiến đời sống người Hung Nô vôcùng khốn đốn.
Để bảo tồn sự sống, Hung Nô chỉ có 2 đường lựa chọn, một là tiến xuống phía nam định cư ở Trung Nguyên nhưng bị người Hán chặn đứng; hai là tiến về phía tây sinh sống.
Năm 372 sau CN, một đoàn kị binh hùng mạnh tự xưng là “Người Hung” tiền trạm tiến về phía tây. Họ vượt qua sông Volga sang châu Âu; đi đến đâu họ thôn tính người bản địa và đưa người Hung Nô sang cát cứ đến đó.
Năm 452, Atila thống lĩnh đại binh Hung Nô đánh vào phía đông thành Roma, sau khi triệt phá xong quay sang hạ nốt phần thành phía tây, ép quốc vương Italia gả em gái cho hắn, quốc vương đành chiều lòng nhờ đó mà phần phía tây Roma không bị triệt hạ.
Vó ngựa và tính bạo tàn của Hung Nô khiến dân bản địa mới nghe tiếng đã thất đảm kinh hồn, nhờ vậy Hung Nô thôn tính châu Âu không mấy khó khăn.








