Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 24/11/2011 21:11 (GMT+7)

Khảo nghiệm một số giống lúa mới tại các vùng sinh thái khác nhau trên địa bàn tỉnh

Trung tâm đã tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển cũng như khả năng chống chịu của các giống lúa lai tại ba vùng sinh thái khác nhau: Vĩnh Đông – Thị trấn Yên Lạc, Hợp Thịnh – Tam Dương, Hợp Châu – Tam Đảo đại diện cho ba vùng sinh thái là đồng bằng, trung du, miền núi qua các tiêu chí: Chịu lạnh (Vụ xuân); Chịu nóng (Vụ mùa); Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất; Chống đổ (chịu thâm canh); Chống chịu sâu bệnh; Năng suất. Từ đó chọn ra được giống lúa lai tốt có năng suất cao, thích ứng rộng để mở rộng diện tích gieo trồng. Hoàn thiện quy trình sản xuất cho các giống chọn được có điều chỉnh hợp lý cho từng vùng sinh thái. Tổng diện tích là 3.000m 2, thực hiện 2 vụ là xuân muộn và mùa sớm. Kết quả đánh giá các giống lúa tại các điểm khảo nghiệm cụ thể như sau:

1. Kết quả tại điểm Hợp Châu – Tam Đảo (Đại diện vùng miền núi):

1.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển

Qua khảo nghiệm cho thấy, thời gian sinh trưởng từ 117 – 124 ngày ở vụ Xuân và từ 97 – 104 ngày ở vụ Mùa. Cả hai vụ các giống đều có thời gian sinh trưởng tương đương hoặc dài hơn đối chứng 2 – 7 ngày. Trong đó có một số giống nổi trội hơn so với đối chứng là Syn 6, Q.ưu số 1, Thục hưng 6, Đại dương 1. Từ kết quả thí nghiệm đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển xếp hạng từ cao đến thấp như sau: Syn 6, Q.ưu số 1, Thục hưng 6, Đại dương 1, Đắc ưu 11, TH3 – 3.

1.2. Các chỉ tiêu chống chịu:

Khả năng chịu lạnh ở vụ Xuân của các giống ở mức khá. Giống có khả năng chịu nóng tốt hơn hoặc tương đương so với đối chứng Syn 6, Đại dương 1, Thục hưng 6, Q.ru 1.

- Khả năng chống chịu sâu bệnh:

+ Sâu đục thân: Khả năng chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Đại dương 1, Syn 6, Thục hưng 6, Q.ưu 1.

+ Sâu cuốn lá: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1 -5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Syn 6, Q.ưu 1, Thục hưng 6, Th 3-3;

+ Rầy nâu: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 0-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Syn 6, Q.ưu 1;

+ Bệnh khô vằn: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1 – 5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Q.ưu 1, Syn 6;

- Khả năng chống chịu thâm canh: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1 -5. Chịu thâm canh tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6. Từ kết quả thí nghiệm đánh giá khả năng chống chịu của các giống xếp hạng từ cao xuống như sau: Q.ưu số 1, Syn 6, Đại dương 1, Đắc ưu 11, Thục hưng 6, TH 3-3.

1.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:

Nhìn chung số bông hữu hiệu của các giống đều cao (>4,3 bông/khóm), số hạt trên bông dao động từ 157 – 240 hạt/bông. Tuy nhiên, khả năng thích ứng và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của từng giống. Các giống có khả năng thích nghi tốt nên có tỷ lệ lép thấp, năng suất đạt cao hơn hoặc tương đương với đối chứng là các giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6, Đại dương 1. Về năng suất của các giống xếp từ cao xuống thấp như sau: Q.ưu số 1, Syn 6, Thục hưng 6, Đại dương 1, Đắc ưu 11, TH 3-3.

2. Kết quả tại điểm Hợp Thịnh – Tam Dương (vùng trung du):

2.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển:

Thời gian sinh trưởng từ 117 – 124 ngày ở vụ Xuân và từ 97 – 104 ngày ở vụ Mùa. Cả hai vụ các giống đều có thời gian sinh trưởng tương đương hoặc dài hơn đối chứng 2-7 ngày. Trong đó có một số giống nổi trội hơn so với đối chứng là Syn 6, Q.ưu số 1, Thục hưng 6. Từ kết quả thí nghiệm đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển xếp hạng từ cao đến thấp như sau: Syn 6, Q.ưu số 1, Thục hưng 6, Đắc ưu 11 (đối chứng), Đại dương 1, TH 3-3.

2.2. Các chỉ tiêu chống chịu:

Khả năng chịu lạnh ở vụ Xuân của các giống ở mức khá. Khả năng chịu nóng ở vụ Mùa và vụ Xuân của các giống từ điểm 1-5. Giống có khả năng chịu nóng tốt hơn hoặc tương đương so với đối chứng Syn 6, Đại dương 1, Thục hưng 6, Q.ưu 1.

- Khả năng chống chịu sâu bệnh:

+ Sâu đục thân: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 0-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Đại dương 1, Syn 6, Thục hưng 6, Q.ưu 1.

+ Sâu cuốn lá: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Đại dương 1, Syn 6, Q.ưu 1, Thục hừng 6;

+ Rầy nâu: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 0-5

Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6;

+ Bệnh khô vằn: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6;

- Khả năng chống chịu thâm canh: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6, Đại dương 1;

2.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:

Năng suất thực thu dao động từ 52,8 – 79,6 tạ/ha. Cao hơn hoặc tương đương so với đối chứng là các giống Syn 6, Thục hưng 6, Đại dương 1, Q.ưu 1. Nhìn chung số bông hữu hiệu của các giống đều cao (>4,2 bông/khóm), số hạt trên bông cũng rất cao dao động từ 140 - 273 hạt/bông. Tuy nhiên, khả năng thích ứng và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của từng giống. Các giống có khả năng thích nghi tốt nên có tỷ lệ lép thấp, năng suất đạt cao hơn hoặc tương đương với đối chứng là các giống Thực hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6, Đại dương 1. Về năng suất của các giống xếp từ cao xuống thấp như sau: Syn 6, Thục hưng 6, Đại dương 1, Q.ưu số 1, Đắc ưu 11, TH 3-3.

3. Kết quả tại điểm Vĩnh Đông – Thị trấn Yên Lạc:

3.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển:Thời gian sinh trưởng ngắn từ 120-131 ngày ở vụ Xuân và từ 100-115 ngày ở vụ Mùa. Cả hai vụ đều có thời gian sinh trưởng tương đương hoặc dài hơn đối chứng 3 – 11 ngày. Trong đó có một số giống nổi trội hơn so với đối chứng Đắc ưu 11 là Syn 6, Q.ưu số 1, Thục hưng 6. Từ kết quả thí nghiệm đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển xếp hạng từ cao đến thấp như sau: Syn 6, Q.ưu số 1, Thục hưng 6, Đắc ưu 11 (đối chứng), Đại dương 1, TH 3-3.

3.2. Các chỉ tiêu chống chịu:

Khả năng chịu lạnh ở vụ Xuân của các giống ở mức khá. Khả năng chịu nóng ở vụ Mùa và vụ Xuân của các giống từ điểm 1-5. Giống có khả năng chịu nóng tốt hơn hoặc tương đương so với đối chứng là Syn 6, Đại dương 1, Thục hưng 6.

- Khả năng chống chịu sâu bệnh:

+ Sâu đục thân: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 0-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Đại dương 1, Syn 6;

+ Sâu cuốn lá: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 0-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Đại dương 1, Syn 6;

+ Rầy nâu: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 0-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6;

+ Bệnh khô vằn: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6;

- Khả năng chống chịu thâm canh: Khả năng chống chịu của các giống từ điểm 1-5. Chống chịu tốt hơn hoặc tương đương với đối chứng là giống Thục hưng 6, Q.ưu 1, Syn 6;

3.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:

Năng suất thực thu dao động từ 60,7 – 83,5 tạ/ha. Cao hơn hoặc tương đương so với đối chứng là các giống Thục hưng 6, Q.ưu 1. Nhìn chung số bông hữu hiệu của các giống đều cao (4,2 bông/khóm), số hạt trên bông cũng rất cao, dao động từ 210 – 255 hạt/bông. Tuy nhiên, khả năng thích ứng và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của từng giống. Các giống có khả năng thích nghi tốt nên có tỷ lệ lép thấp, năng suất đạt cao hơn hoặc tương đương với đối chứng là các giống Thục hưng 6, Q.ưu 1. Về năng suất của các giống xếp từ cao xuống thấp như sau: Thục hưng 6, Q.ưu số 1, Đắc ưu 11, Syn 6, Đại dương 1, TH 3-3.

Qua kết quả nghiên cứu khảo nghiệm ở cả 2 vụ Xuân muộn và mùa sớm năm 2010 trên cả 3 vùng sinh thái của tỉnh có một số đánh giá và kết luận như sau:

- Vùng đồng bằng: Đất tốt nông dân có tập quán sản xuất và trình độ thâm canh, thời tiết phù hợp với cây lúa nên các giống tham gia khảo nghiệm đều cho năng suất cao ở cả hai vụ, tốt nhất là Thục hưng 6 và Q.ưu số 1, cần khuyến cáo mở rộng diện tích gieo cấy 2 giống này ở hai vụ xuân muộn và mùa sớm.

- Vùng trung du: Đất cát pha nghèo dinh dưỡng, thiếu kali, nóng nhanh lạnh lâu, trình độ thâm canh hạn chế. Tuy nhiên, để các giống lúa lai phát huy hết tiềm năng của giống cần phải xây dựng chế độ thâm canh phù hợp. Trong các giống tham gia khảo nghiệm cần mở rộng khuyến cao giống lúa lai Syn 6, Thục hưng 6 trong vụ Xuân muộn và Xuân sớm.

- Vùng Miền núi: Đất dốc tụ, chua, nhiều mùn nhưng lại chứa độc tố gây hại nhiều, trình độ thâm canh còn hạn chế, cần xây dựng chế độ thâm canh phù hợp để các giống tham gia khảo nghiệm phát huy hết tiềm năng năng suất. Ở vụ xuân muộn và vụ mùa sớm có Q.ưu số 1, Thục hưng 6 là có thể phát triển, phát huy được tiềm năng năng suất của giống.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Cụm thi đua Liên hiệp hội các tỉnh Nam Bộ sơ kết công tác thi đua 6 tháng đầu năm 2026
Chiều ngày 30/7/2026, tại tỉnh Đồng Tháp, Cụm thi đua Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh Nam Bộ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị do TTND.TS.BS Ngô Văn Tán, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long, Cụm trưởng Cụm thi đua chủ trì.
Đắk Lắk tổ chức thành công Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031
Sáng 30/7, tại Khách sạn ELEPHANTS (tỉnh Đắk Lắk), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp Hội) long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031 với sự tham dự của 250 đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, các hội thành viên cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh.
Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 thành công tốt đẹp
Trong hai ngày 28-29/7, Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra trọng thể với chủ đề “Tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh vững mạnh, góp phần xây dựng tỉnh Tuyên Quang phát triển toàn diện, bền vững”.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chuyển từ cứu trợ tình thế sang chủ động, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng
Sáng 28/7, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam lần thứ XII, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra với sự tham dự của 500 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 5,6 triệu cán bộ, hội viên, tình nguyện viên và thanh thiếu niên Chữ thập Đỏ cả nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Đắk Lắk: Bước tiến đột phá trong điều trị vô sinh hiếm muộn
Tham gia Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk lần thứ X (2024 - 2025), ThS.BS Lê Huy Khải cùng các cộng sự tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, Khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (IVFMD BMT) đã mang đến hai giải pháp y học xuất sắc, hiện thực hóa giấc mơ làm cha, làm mẹ của hàng ngàn cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn tại Đắk Lắk.
KTS. Trần Ngọc Chính tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam
Ngày 25/7, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam lần thứ VI, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. KTS. Trần Ngọc Chính tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Hội. TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự, phát biểu và trao các phần thưởng của Liên hiệp Hội Việt Nam cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.
Liên hiệp Hội Việt Nam sơ kết 6 tháng đầu năm, quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm, hướng tới Đại hội IX
Chiều 24/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong 6 tháng đầu năm, thống nhất các giải pháp thực hiện nhiệm vụ những tháng cuối năm.