Kết quả nhân thuần giống bò thịt nhiệt đới
1. Mở đầu
Bò Droughtmaster được lai tạo tại Úc. Đây là giống bò thịt nhiệt đới hỗn hợp mang tương đương 50% máu bò Shorthorn và 50% máu bò Brahman. Bò có khả năng chịu nhiệt, sức kháng ve, khả năng sinh sản tốt. Chúng được nuôi nhiều ở bang Queensland , vùng nhiệt đới nóng Bắc Úc.
Năm 2003, trên cơ sở chương trình đề tài trọng điểm cấp bộ năm 2002 - 2005: Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo nhằm nâng cao khả năng sản xuất thịt bò ở Việt Nam . Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Gia súc lớn, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã nhập giống bò này để nghiên cứu khả năng thích nghi, đặc điểm sản xuất của chúng trong điều kiện chăn nuôi bán thâm canh tại Trại Bến Cát, Bình Dương. Số liệu tổng hợp qua 4 năm, từ tháng 3 - 2003 đến tháng 3 – 2007.
2. Phương pháp
30 bò cái tơ giống Droughtmaster thuần, tuổi từ 14 - 16 tháng được nhập từ Úc qua công ty NOVICO. Năm đầu, bò được nhốt và cung cấp thức ăn, nước uống tại chuồng cho từng nhóm tuổi. Bò được phối giống bằng tinh bò đực giống Droughtmaster thuần nhập từ Úc để tạo ra con thuần. Từ năm sau bò nuôi chăn thả kết hợp bổ sung thức ăn tại chuồng, sử dụng bò đực thuần giống Droughtmaster để cho phối giống trực tiếp. Nhu cầu dinh dưỡng cho bò mẹ và bê con được xác định dựa trên nguyên tắc nhu cầu dinh dưỡng cho duy trì và cho sản xuất. Khẩu phần thức ăn được tính toán từ nhu cầu dinh dưỡng và giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng. Các chỉ tiêu theo dõi: Đặc điểm ngoại hình của bò Droughtmaster thuần; khối lượng bê sơ sinh, 3, 6, 9, 12, 15, 18 và 24 tháng bằng cân điện tử lúc đói. Các chỉ tiêu sinh sản của bò mẹ được tính toán từ số liệu ghi chép cá thể. Các bệnh thường gặp và tỷ lệ loại thải; khả năng kháng ve; tỷ lệ nuôi sống bê qua các mốc tuổi.
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm ngoại hình và sinh trưởng của bò Droughtmaster thuần
Bò Droughtmaster thuần có lông màu đỏ đến vàng sẫm, u thấp, yếm thõng, mình tròn ngực sâu, chân thấp, mắt sâu, cơ bắp nổi rõ. Gương mũi và niêm mạc mắt màu nâu, lông thưa và ngắn. Con đực có u cao hơn con cái, một số con có màu đỏ tối như màu mận chín. Con cái có bầu vú khá phát triển, núm vú to, âm hộ có nhiều nếp nhăn.
Đàn bò cái tơ Droughtmaster có khối lượng trung bình ở 24 tháng tuổi đạt 338,64 kg; khối lượng khi phối giống lần đầu từ 304 - 370 kg và sau khi sinh lứa đầu từ 380 - 420 kg. Khối lượng của bò cái trưởng thành thế hệ gốc trung bình 453 kg (dao động từ 363 - 550 kg). Tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn 15 - 18 tháng tuổi đạt 319,33 gam/con/ngày, sau đó giảm dần. Giai đoạn 19 đến 21 tháng đạt 175,56 gam/con/ngày, giai đoạn 22 đến 24 tháng đạt 157,11 gam/con/ngày và tăng trọng bình quân chung qua các giai đoạn từ 15 đến 24 tháng tuổi đạt 217,33 g/con/ngày.
3.2. Khả năng thích nghi của đàn bò Droughtmaster thuần nhập nội
Bò dễ nuôi, ít bệnh. Một số bệnh thường gặp của đàn bò Droughtmaster gồm: Rối loạn tiêu hoá (7,99%), áp xe, viêm rốn (3,48%). Tỷ lệ nhiễm ve ở đàn Droughtmaster là 37%. Số ve bình quân trên một bê bị nhiễm là 18 ve/bê. Tỷ lệ nhiễm ve ở đây thấp hơn một số nơi khác do điều kiện chăn nuôi trang trại có định kỳ tẩy uế chuồng trại và phun thuốc diệt ve. Tỷ lệ loại thải đàn bò mẹ sau 3 năm là 10% (3 trong số 30 con).
3.3. Một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái Droughmaster thuần nhập nội
![]() |
Bảng 1: Một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái Droughtmaster thuần |
Đối với bò cái phối giống bằng truyền tinh nhân tạo, số liệu cho thấy: hệ số phối giống đậu thai là 1,59 liều tinh/thai đậu. Tỷ lệ đậu thai ở lần phối giống đầu tiên đạt 62,30%. Những bò cái được phối giống trực tiếp bởi bò đực thả chung đàn, không xác định được số liệu hệ số phối đậu. Sau 3,5 năm tính từ khi bò cái tơ bắt đầu được phối giống đến nay đã có 75 bê được sinh ra trên tổng số 28 bò cái sinh sản. Tính trung bình tỷ lệ đẻ hàng năm của đàn là 73,5%.
![]() |
Bảng 2: Khối lượng bê Droughtmaster qua các mốc tuổi (kg) |
3.4. Khối lượng và tỷ lệ nuôi sống đàn bê Droughtmaster sinh ra tại Bến Cát
Khối lượng bê sơ sinh và tăng trọng của bê tại RRTC khá cao. Khối lượng bê Droughtmaster sơ sinh đạt trung bình 23,73 kg. Khối lượng 12 tháng tuổi đạt 236,14 kg và 24 tháng tuổi đạt 376,28 kg. Khối lượng của bê cái cũng cao hơn khối lượng ở cùng giai đoạn tuổi của bò thế hệ mẹ. Bê Droughtmaster thuần sinh tại Bến Cát, có tăng trưởng tương đương với bê lai F1 Charolais. Khối lượng bê 12 tháng tuổi có thể đạt 240 - 250 kg tương ứng với tăng trọng 600 gam/ngày.
Bê Droughtmaster tăng trọng nhanh trong giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng. Tăng trọng bình quân (tính chung đực và cái) trong giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi đạt 590,03 gam/con/ngày; giai đoạn từ 13 đến 24 tháng tuổi tăng trọng thấp hơn và đạt 389,28 gam/con/ngày. Bình quân chung trong giai đoạn từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi đạt 489,65 gam/con/ngày.
Tỷ lệ nuôi sống bê Droughtmaster thuần sinh ra từ đàn cái nhập nội giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là 84,09%. Tỷ lệ nuôi sống bê giai đoạn 4 - 24 tháng tuổi đạt 100%. Bình quân chung tỷ lệ nuôi sống bê giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi là 93,75%; giai đoạn 13 - 24 tháng tuổi là 100% và giai đoạn từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi là 95,51%. Như vậy số bê chết tập trung vào giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi (15,91%).
4. Kết luận
- Ngoại hình bò Droughtmaster thiên về bò thịt với đặc điểm chân thấp, tròn mình, sâu ngực, cơ bắp phát triển. Bò có những đặc điểm pha trộn giữa giống bò Brahman đỏ với giống bò thịt châu Âu. Màu lông đồng nhất từ vàng đến đỏ sẫm. Khối lượng bò trưởng thành 453 kg dao động trong khoảng rộng (từ 363 - 550 kg) chứng tỏ đặc điểm giống chưa ổn định.
- Bò cái có biểu hiện động dục yếu thời gian động dục ngắn. Tỷ lệ đẻ hàng năm của đàn mới nhập trên 70%. Tình trạng sinh đẻ dễ dàng. Bê bú sữa lớn nhanh chứng tỏ khả năng cho sữa của bò mẹ khá nhưng không hám con và nhiều khi không cho con bú trong những ngày đầu mới sinh. Để tăng tỷ lệ sinh sản, bò cái nên được chăn thả và thả bò đực giống vào đàn để phối giống trực tiếp.
- Khối lượng bê sơ sinh lứa đầu 23 kg - 24 kg. Chăm sóc tốt và đủ dinh dưỡng bê đạt tăng trọng trên dưới 600 gam/ngày giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, 500 gam/ngày giai đoạn 13 - 24 tháng tuổi. Bê có ngoại hình đẹp phù hợp thị hiếu người chăn nuôi.
- Bò mẹ và bê con thích nghi tốt với môi trường nóng ẩm ít bệnh tật vì vậy có thể nhân thuần giống bò này tại các tỉnh phía Nam .










