Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/01/2008 00:41 (GMT+7)

Kết quả nhân thuần giống bò thịt nhiệt đới

1. Mở đầu

Bò Droughtmaster được lai tạo tại Úc. Đây là giống bò thịt nhiệt đới hỗn hợp mang tương đương 50% máu bò Shorthorn và 50% máu bò Brahman. Bò có khả năng chịu nhiệt, sức kháng ve, khả năng sinh sản tốt. Chúng được nuôi nhiều ở bang Queensland , vùng nhiệt đới nóng Bắc Úc.

Năm 2003, trên cơ sở chương trình đề tài trọng điểm cấp bộ năm 2002 - 2005: Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo nhằm nâng cao khả năng sản xuất thịt bò ở Việt Nam . Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Gia súc lớn, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã nhập giống bò này để nghiên cứu khả năng thích nghi, đặc điểm sản xuất của chúng trong điều kiện chăn nuôi bán thâm canh tại Trại Bến Cát, Bình Dương. Số liệu tổng hợp qua 4 năm, từ tháng 3 - 2003 đến tháng 3 – 2007.

2. Phương pháp

30 bò cái tơ giống Droughtmaster thuần, tuổi từ 14 - 16 tháng được nhập từ Úc qua công ty NOVICO. Năm đầu, bò được nhốt và cung cấp thức ăn, nước uống tại chuồng cho từng nhóm tuổi. Bò được phối giống bằng tinh bò đực giống Droughtmaster thuần nhập từ Úc để tạo ra con thuần. Từ năm sau bò nuôi chăn thả kết hợp bổ sung thức ăn tại chuồng, sử dụng bò đực thuần giống Droughtmaster để cho phối giống trực tiếp. Nhu cầu dinh dưỡng cho bò mẹ và bê con được xác định dựa trên nguyên tắc nhu cầu dinh dưỡng cho duy trì và cho sản xuất. Khẩu phần thức ăn được tính toán từ nhu cầu dinh dưỡng và giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng. Các chỉ tiêu theo dõi: Đặc điểm ngoại hình của bò Droughtmaster thuần; khối lượng bê sơ sinh, 3, 6, 9, 12, 15, 18 và 24 tháng bằng cân điện tử lúc đói. Các chỉ tiêu sinh sản của bò mẹ được tính toán từ số liệu ghi chép cá thể. Các bệnh thường gặp và tỷ lệ loại thải; khả năng kháng ve; tỷ lệ nuôi sống bê qua các mốc tuổi.

3. Kết quả

3.1. Đặc điểm ngoại hình và sinh trưởng của bò Droughtmaster thuần

Bò Droughtmaster thuần có lông màu đỏ đến vàng sẫm, u thấp, yếm thõng, mình tròn ngực sâu, chân thấp, mắt sâu, cơ bắp nổi rõ. Gương mũi và niêm mạc mắt màu nâu, lông thưa và ngắn. Con đực có u cao hơn con cái, một số con có màu đỏ tối như màu mận chín. Con cái có bầu vú khá phát triển, núm vú to, âm hộ có nhiều nếp nhăn.

Đàn bò cái tơ Droughtmaster có khối lượng trung bình ở 24 tháng tuổi đạt 338,64 kg; khối lượng khi phối giống lần đầu từ 304 - 370 kg và sau khi sinh lứa đầu từ 380 - 420 kg. Khối lượng của bò cái trưởng thành thế hệ gốc trung bình 453 kg (dao động từ 363 - 550 kg). Tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn 15 - 18 tháng tuổi đạt 319,33 gam/con/ngày, sau đó giảm dần. Giai đoạn 19 đến 21 tháng đạt 175,56 gam/con/ngày, giai đoạn 22 đến 24 tháng đạt 157,11 gam/con/ngày và tăng trọng bình quân chung qua các giai đoạn từ 15 đến 24 tháng tuổi đạt 217,33 g/con/ngày.

3.2. Khả năng thích nghi của đàn bò Droughtmaster thuần nhập nội

Bò dễ nuôi, ít bệnh. Một số bệnh thường gặp của đàn bò Droughtmaster gồm: Rối loạn tiêu hoá (7,99%), áp xe, viêm rốn (3,48%). Tỷ lệ nhiễm ve ở đàn Droughtmaster là 37%. Số ve bình quân trên một bê bị nhiễm là 18 ve/bê. Tỷ lệ nhiễm ve ở đây thấp hơn một số nơi khác do điều kiện chăn nuôi trang trại có định kỳ tẩy uế chuồng trại và phun thuốc diệt ve. Tỷ lệ loại thải đàn bò mẹ sau 3 năm là 10% (3 trong số 30 con).

3.3. Một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái Droughmaster thuần nhập nội

Bảng 1: Một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái Droughtmaster thuần

Bảng 1: Một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái Droughtmaster thuần

Tuổi phối giống lần đầu của bò cái tơ trung bình là 22,17 tháng. Thời gian mang thai bê thuần của bò Droughtmaster là 283,77 ngày. Thời gian phối lại sau khi đẻ 118,50 ngày và khoảng cách lứađẻ là 421,24 ngày.

Đối với bò cái phối giống bằng truyền tinh nhân tạo, số liệu cho thấy: hệ số phối giống đậu thai là 1,59 liều tinh/thai đậu. Tỷ lệ đậu thai ở lần phối giống đầu tiên đạt 62,30%. Những bò cái được phối giống trực tiếp bởi bò đực thả chung đàn, không xác định được số liệu hệ số phối đậu. Sau 3,5 năm tính từ khi bò cái tơ bắt đầu được phối giống đến nay đã có 75 bê được sinh ra trên tổng số 28 bò cái sinh sản. Tính trung bình tỷ lệ đẻ hàng năm của đàn là 73,5%.

Bảng 2: Khối lượng bê Droughtmaster qua các mốc tuổi (kg)

Bảng 2: Khối lượng bê Droughtmaster qua các mốc tuổi (kg)

Bò cái có biểu hiện động dục yếu, thời gian động dục ngắn. Tình trang sinh đẻ dễ dàng. Để tăng tỷ lệ sinh sản, bò cái nên được chăn thả và thả bò đực giống vào đàn để phối giống trực tiếp.

3.4. Khối lượng và tỷ lệ nuôi sống đàn bê Droughtmaster sinh ra tại Bến Cát

Khối lượng bê sơ sinh và tăng trọng của bê tại RRTC khá cao. Khối lượng bê Droughtmaster sơ sinh đạt trung bình 23,73 kg. Khối lượng 12 tháng tuổi đạt 236,14 kg và 24 tháng tuổi đạt 376,28 kg. Khối lượng của bê cái cũng cao hơn khối lượng ở cùng giai đoạn tuổi của bò thế hệ mẹ. Bê Droughtmaster thuần sinh tại Bến Cát, có tăng trưởng tương đương với bê lai F1 Charolais. Khối lượng bê 12 tháng tuổi có thể đạt 240 - 250 kg tương ứng với tăng trọng 600 gam/ngày.

Bê Droughtmaster tăng trọng nhanh trong giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng. Tăng trọng bình quân (tính chung đực và cái) trong giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi đạt 590,03 gam/con/ngày; giai đoạn từ 13 đến 24 tháng tuổi tăng trọng thấp hơn và đạt 389,28 gam/con/ngày. Bình quân chung trong giai đoạn từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi đạt 489,65 gam/con/ngày.

Tỷ lệ nuôi sống bê Droughtmaster thuần sinh ra từ đàn cái nhập nội giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là 84,09%. Tỷ lệ nuôi sống bê giai đoạn 4 - 24 tháng tuổi đạt 100%. Bình quân chung tỷ lệ nuôi sống bê giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi là 93,75%; giai đoạn 13 - 24 tháng tuổi là 100% và giai đoạn từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi là 95,51%. Như vậy số bê chết tập trung vào giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi (15,91%).

4. Kết luận

- Ngoại hình bò Droughtmaster thiên về bò thịt với đặc điểm chân thấp, tròn mình, sâu ngực, cơ bắp phát triển. Bò có những đặc điểm pha trộn giữa giống bò Brahman đỏ với giống bò thịt châu Âu. Màu lông đồng nhất từ vàng đến đỏ sẫm. Khối lượng bò trưởng thành 453 kg dao động trong khoảng rộng (từ 363 - 550 kg) chứng tỏ đặc điểm giống chưa ổn định.

- Bò cái có biểu hiện động dục yếu thời gian động dục ngắn. Tỷ lệ đẻ hàng năm của đàn mới nhập trên 70%. Tình trạng sinh đẻ dễ dàng. Bê bú sữa lớn nhanh chứng tỏ khả năng cho sữa của bò mẹ khá nhưng không hám con và nhiều khi không cho con bú trong những ngày đầu mới sinh. Để tăng tỷ lệ sinh sản, bò cái nên được chăn thả và thả bò đực giống vào đàn để phối giống trực tiếp.

- Khối lượng bê sơ sinh lứa đầu 23 kg - 24 kg. Chăm sóc tốt và đủ dinh dưỡng bê đạt tăng trọng trên dưới 600 gam/ngày giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, 500 gam/ngày giai đoạn 13 - 24 tháng tuổi. Bê có ngoại hình đẹp phù hợp thị hiếu người chăn nuôi.

- Bò mẹ và bê con thích nghi tốt với môi trường nóng ẩm ít bệnh tật vì vậy có thể nhân thuần giống bò này tại các tỉnh phía Nam .

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.