Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển
Thế kỷ 21 được coi là thế kỷ của Biển, các quốc gia có biển đều xây dựng chiến lược khai thác biển cho mình.Chiến lược phát triển kinh tế biển của nước ta cần bao quát những vấn đề cơ bản để quản lý, khai thác biển một cách có hiệu quả. Trong đó nổi bật là: Chiến lược tìm kiếm, bảo vệ, khai thác nguồn lợi biển và ven bờ; chiến lược ngành nghề; chiến lược an ninh; chiến lược bảo vệ và làm giàu môi trường biển; chiến lược khoa học công nghệ biển; chiến lược xây dựng nguồn nhân lực; chiến lược hợp tác khu vực và quốc tế; chiến lược quản lý thống nhất biển quốc gia; và tổ chức thực hiện chiến lược.
Về Chiến lược phát triển kinh tế biển, tại hội nghị lần thứ 4 khoá X, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh chỉ rõ "Hội nghị Trung ương lần này thảo luận toàn diện về vị trí, vai trò của biển, cả về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại để xây dựng "Chiến lược biển đến năm 2020" và tầm nhìn xa hơn, là một bước cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội X của Đảng, nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của biển, vùng ven biển và hải đảo, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần tạo thêm thế và lực mới để phát triển kinh tế - xã hội, làm chủ vùng biển của Tổ quốc, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".
Biển Đông có vị trí quan trọng đến chiến lược kinh tế Biển của nước ta ? Điều quan trọng là chúng ta phải thông thạo luật pháp quốc tế về biển, nhất là Công ước quốc tế về vấn đề này. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, chúng ta cần phải dựa vào luật pháp quốc tế và lấy đấu tranh pháp lý là chính, kết hợp với đa phương hóa, công khai hóa tất cả các vấn đề có liên quan. Mấy năm vừa qua, hoạt động đối ngoại liên quan đến biển của chúng ta đã đạt được một số kết quả, nhưng nhìn chung vẫn còn khiêm tốn.
Xây dựng hệ thống đô thị ven biển
“Chiến lược biển đến năm 2020” của nước ta sẽ tập trung vào lĩnh vực khai thác những ngành kinh tế đang có thế mạnh, như khai thác chế biến dầu khí, du lịch biển, kinh tế hàng hải, khai thác hải sản...Đồng thời, trong “Chiến lược biển đến 2020”, các nhà nghiên cứu đã đề xuất hình thành một con đường cao tốc chạy dọc theo bờ biển nước ta và hệ thống đô thị ven biển nhằm phát triển kinh tế biển. Bờ biển nước ta cũng được chia thành 4 vùng theo vị trí địa lý: vùng biển phía bắc (xây dựng kinh tế mở), vùng duyên hải miền trung (xây dựng chuỗi đô thị ven biển), vùng biển Đông Nam Bộ khai thác và chế biến dầu khí), vùng biển gắn với đồng bằng Sông Cửu Long (xây dựng đảo Phú Quốc thành khu kinh tế mở).
Có chính sách hợp lý giúp ngư dân gắn bó với biển
Cần giúp ngư dân nhận thức một cách đầy đủ về biển, gắn bó với biển và thông thạo nghề biển. Nhiều cơn bão đi qua, chúng ta đã chứng kiến những ngư dân vĩnh viễn nằm lại với biển, như vậy để khuyến khích lao động trên biển thì vấn đề an toàn lao động cần phải được quan tâm đúng mức, không những về cứu hộ, cứu nạn mà còn cả vấn đề đảm bảo an ninh. Hiện nay, nhiều bà con ngư dân rất nghèo, mà một trong những lý do là chúng ta chưa có chính sách khuyến khích đặc biệt để hỗ trợ “những đại diện người Việt trên Biển lớn”.
Kết hợp nhiều loại hình kinh tế biển
Khai thác hải sản là một nghề truyền thống của đại bộ phận cư dân ven biển. Hiện nay hơn 80% số tàu thuyền tập trung khai thác chủ yếu ở vùng nước nông ven bờ, trong khi vùng này chỉ chiếm khoảng 11% diện tích vùng đặc quyền kinh tế. Sản lượng khai thác bền vững ở vùng nước có độ sâu nhỏ hơn 50 mét được ước tính khoảng 600 nghìn tấn, trong khi sản lượng khai thác ven bờ hiện nay đã đạt khoảng 1,1 triệu tấn. Điều này chứng tỏ sức ép lên nguồn lợi ven bờ là quá lớn. Chính vì vậy, Bộ Thuỷ sản trong chiến lược phát triển nghề cá của mình đưa ra mục tiêu là đến năm 2010 giảm số tàu thuyền khai thác ven bờ từ 96.000 chiếc như hiện nay xuống còn 50.000 chiếc,tăng số tàu thuyền đánh bắt xa bờ nhằm giảm sức ép khai thác huỷ diệt nguồn lợi.
PGS. TS Nguyễn ChuHồi - Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thuỷ sản cho biết: “Đối với ngành Thuỷ sản, thời gian tới, có hình thức là giao quản lý dựa vào người dân hoặc đồng quản lý đối với các nghề cá nhỏ. Chính việc giao các quyền đó cho người dân sẽ phát huy được sự sáng tạo của họ trong việc tạo ra nghề mới. Khi người dân có đất, được làm chủ và có kinh nghiệm truyền thống, họ vẫn là ngư dân nhưng sẽ không đánh bắt vô tội vạ nữa, bởi tàu thuyền không bảo đảm và hiệu suất đánh bắt thấp… Lúc đó họ sẽ dần khôi phụ các nghề thủ công truyền thống, hoặc chuyển từ khai thác biển sang nuôi trồng biển. Họ sẽ vừa sản xuất vừa canh giữ vùng đất, vùng nước, vùng biển. Không phải ai cũng chuyển sang đánh bắt lớn mà có thể chỉ phát triển những thuyền để làm nghề câu, kết hợp với làm du lịch… nguồn lợi được bảo đảm lâu dài. Nếu thực hiện được như vậy, chỉ sau 5 năm nguồn lợi biển sẽ tự phục hồi…"
Người dân cần phát huy vai trò làm chủ được vùng biển của mình, ngư trường và môi trường sống xung quanh mình – nơi từ bao đời là chỗ dựa sinh kế của họ, để có thể làm chủ trong việc quản lý và bảo vệ nguồn lợi lâu dài cho cộng đồng ở nơi đó và cho cả vùng biển của đất nước.
Tăng cường bảo vệ môi trường biển
Theo PGS Nguyễn Tác An, hiện nay, nguồn lợi biển đang phải chịu hai thách thức to lớn, thứ nhất là sự tác động đến nguồn lợi tài nguyên biển. Đối với Việt Nam là nước đang phát triển, có những khó khăn về mặt kinh tế, về chính sách thì thách thức ấy lại càng nhân lên gấp nhiều lần. Tiềm lực để giải quyết tai biến thiên nhiên, để đầu tư bảo vệ môi trường biển, để nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ biển ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế vì các khó khăn không phải là ít. Những ô nhiễm như vậy sẽ làm chất lượng nước giảm sút, hàm lượng vi sinh, hàm lượng ô nhiễm hữu cơ vượt mức cho phép do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, ô nhiễm kim loại nặng do sử dụng hóa chất để khai thác vàng... Hệ sinh thái bị hủy hoại rất lớn, nuôi tôm thì phá rừng ngập mặn, đi du lịch thì phá hết quần đảo san hô, phá hoại rừng ven biển do quá trình phát triển kinh tế...Thứ hai, lượng rác thải có chu kỳ phân hủy chậm như bao nhựa, polymer vẫn còn là vấn đề nan giải không chỉ ở Việt Nam mà ở rất nhiều nước khác trên thế giới. Khi những loại rác chất dẻo này bị vất xuống biển, chúng sẽ tạo thành những màng ngăn, khiến cho quá trình trao đổi khí giữa nước và đáy không thực hiện được, vùng đáy biển từ thoáng khí trở thành vùng yếm khí, phát sinh ra khí sunphua hydrô (H2S), gây nên mùi hôi thối, biến vùng nước sống thành vùng nước chết. Một khi đã biến thành vùng nước chết thì rất khó khăn để khôi phục lại được, hoặc phục hồi lại được thì cũng phải mất từ 60 năm đến 100 năm.
Năm 2002, một chiến lược quốc gia về quản lý môi trường biển và ven biển đã được soạn thảo với sự trợ giúp của Ngân hàng Phát triển châu Á và Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy Sĩ.
Chiến lược gồm sáu hợp phần: Quy hoạch quản lý tổng hợp biển và ven bờ cho các tỉnh duyên hải. Phát triển các khu bảo tồn biển và ven bờ. Quản lý tổng hợp nghề cá ven bờ. Phát triển và cải thiện sinh kế của các cộng đồng ven biển dễ bị tổn thương. Bảo vệ duyên hải Việt Nam thoát khỏi thiên tai và xói mòn ven biển. Kiện toàn khung môi trường hành động quốc gia, nâng cao nhận thức về môi trường, đánh giá ô nhiễm và giám sát.








