Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/07/2008 20:47 (GMT+7)

Kênh đào cổ ở Nam bộ: Thành tựu khoa học hai ngàn năm trước

Lịch sử văn minh sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu rất sớm trong khoảng thế kỷ

thứ sáu hay thứ năm trước Công nguyên, khi một bộ phận cư dân tập trung trong các hào thành quanh một đền thờ lộ thiên dưới dạng “gò nổi” hay “thành mọi” chuyển sang sinh sống dọc theo bờ các dòng nước. Họ tạo lập nên các trung tâm cư trú mới ở nơi có nhiều tôm cá và lúa trời. Những hạt lúa chín rơi rụng và bị kết cứng trong bùn vào đầu mỗi mùa nắng sẽ nẩy mầm khi mùa mưa đến làm cho đất mềm, cây lúa lớn mạnh đến năm ba mét theo từng con lũ, và về cuối mỗi mùa lụt chúng đơm đầy bông hạt cứng chắc nặng trĩu sẵn sàng cho vụ thu hoạch.

Việc thu hoạch lúa trời hay lúa nổi diễn ra theo thời vụ, và như vậy, cư dân lúc bấy giờ không chỉ giỏi tránh lụt trên các giồng cao mà còn biết tích trữ lúa gạo tại nơi thu hái. Các nhà sàn Nam bộ đã được hình thành trong hoàn cảnh này, trở thành nơi cư ngụ đồng thời tích trữ lương thực, đánh dấu bước khởi đầu nền văn minh sông nước.Các cọc sàn nhà cổ của vài thế kỷ trước và sau Công nguyên tập trung với mật độ cao và với nhiều vỏ trấu trên bờ các con kênh đào băng qua cánh đồng lúa nổi bạt ngàn ở tứ giác Long Xuyên và ở vùng Đồng Tháp Mười.

Thực ra trước khi Louis Malleret tổ chức khai quật khảo cổ cánh đồng Óc Eo (1938 - 1944) thì các nhà nghiên cứu đã lưu ý đến các đường nước nhân tạo cổ đan dọc đan ngang trên đồng bằng châu thổ Cửu Long. Sau này nhờ việc nạo vét và khai đào các dòng kênh mới, một số đường nước nhân tạo cổ đã được tìm thấy trên thực địa và được khảo sát chi tiết, đồng thời xác định vị trí đường bờ vịnh cổ vốn là hải lộ thương thuyền trên con đường hương liệu băng qua đồng bằng Nam bộ lúc bấy giờ theo hướng từ tây sang đông, từ vịnh Rạch Giá đến cửa Cần Giờ ngày nay(H.X. Phương, 1986, 2006). Các phân tích khoáng học, bùn học và tảo học gần đây cho biết các đường nước cổ ở đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu được khai đào trong khoảng 365 - 275 trước Công nguyên và được khai thác sử dụng cho đến các năm 430 - 515 sau Công nguyên, thậm chí có nơi đến năm 760 sau Công nguyên (D.C.W. Sanderson, 2003; P. Bishop, 2004).

Cho tới nay, có trên 200 km đường nước nhân tạo cổ đã được xác định, bao gồm các sông đào, kênh đào, và các bến nước chính là loại hình chợ nổi đặc trưng Nam bộ như chúng ta đang thấy ở ngã bảy Phụng Hiệp, Cái Răng hay Cái Bè…Các đường nước này nối liền bờ vịnh vào thương cảng, và từ các thương cảng chính như Óc Eo đến khoảng 12 đô thị nằm sâu bên trong đất liền. Nhìn chung các sông đào cổ đều thẳng hay đã được nắn thẳng từ nhiều đoạn sông rạch thiên nhiên. Con sông đào dài nhất gần 90 km chạy theo hướng nam - bắc, từ thương cảng Óc Eo qua vùng Lò Mo gần núi Sam đến Angkor Borei. Con sông rộng nhất dài gần 28 km nối giữa kênh đô Ba Thê ở phía đông đến kênh thành cổ Sdachao giữa vùng Thất Sơn phía tây. Các con sông đào nối các đô thị thường cạn và rộng, những con kênh đào nối từ vịnh biển vào thương cảng thường hẹp hơn nhưng khá sâu, độ sâu đạt đến 6 hay 8 mét nơi các bến nước nằm nơi cửa ngõ quan trọng nhất của các thành phố cổ.

Đáng chú ý nhất trong các đường nước nhân tạo thời kỳ văn hóa Óc Eo là hệ thống kênh đào bố trí theo hình nan quạt bên ngoài các đô thị chính; chúng nối từ một sông đào lớn hay một bờ vịnh cổ vào một hào nước rộng và sâu bên cạnh thành phố. Tại Sdachao hệ thống này gồm 4 con kênh đào nối từ vịnh cổ Tám Ngàn đến phía tây nam chân đồi Xà Lôn. Trên không ảnh 4 con kênh này hiện lên rất rõ vì các dòng nước đã phá rộng bờ trước khi bồi lắng lòng kênh. Cũng trên không ảnh, đặc biệt là trên bản photo-pictomap, cả 4 dòng kênh đều dừng lại nơi một con sông cổ nối về Ba Thê, tại đây vị trí sông đào Ba Thê - Sdachao nằm trùng với dòng kênh Cây Me hiện tại.

Ở Ba Thê các dòng kênh cổ chỉ hiện lên lờ mờ trên ảnh hàng không và ảnh vệ tinh, do bởi dòng kênh bị vùi lấp bởi cùng một chất liệu phù sa, và do bởi sau đó có nhiều kiến trúc đã được xây dựng chồng phủ lên trên. Có cả thảy 11 dấu vết kênh cổ trên các bức ảnh, 9 nối từ vịnh cổ phía đông vào phía đông nam chân núi, 2 nối từ sông Hậu cổ ở Mớp Văn vào phía tây nam Ba Thê. Các đợt khảo sát địa chất giữa năm 1986 và 1988 đã tìm gặp được 4 trong số các dòng kênh đó: một chạy giữa Giồng Xoài và gò Óc Eo, một chạy gần di chỉ gò Cây Thị, một bắt đầu từ di chỉ Giồng Cát, và một chính là kênh Ba Thê cũ ngày nay. Cả 4 đoạn kênh đều nối vào Lung Lớn hay Lung Lạng, vốn là một con sông cổ rộng từ 40 đến 60 mét, dài hơn 11 km nối từ thương cảng Óc Eo đến tiền cảng Nền Chùa phía bắc thị xã Rạch Giá ngày nay.

Hệ thống đường nước nhân tạo ở đồng bằng sông Cửu Long nói lên trình độ cao trong tổ chức và quản lý cộng đồng lúc bấy giờ cùng những kỹ thuật dân sự mang tính chìa khóa cho việc hình thành, phát triển và bảo tồn nền văn minh sông nước cho tới ngày nay.Chúng ta có thể không tìm thấy một miền Nam cổ xưa, một văn hóa Óc Eo đúng nghĩa, thậm chí cả lý do hiện hữu của một thương cảng Óc Eo giữa lòng đồng bằng Nam bộ ngày nay nếu không biết đến các dòng sông đào, kênh đào tạo thành hệ thống đường nước độc đáo hai ngàn năm trước, và các bến nước nơi để lại rất nhiều cọc nhà sàn cổ chính là tiền thân của loại hình chợ nổi nổi tiếng ngày nay.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.