Huyết áp cao & việc kiểm soát tại cộng đồng
Tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao ngày càg gia tăng
Huyết áp cao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu. Tại Việt Nam, tần suất huyết áp cao ở người lớn ngày càng gia tăng. Trong những năm 1960 tỷ lệ huyết áp cao là khoảng 1%, nhưng theo một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (trên 25 tuổi) trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ huyết áp cao đã tăng lên đến 25,1%. Như vậy, hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc không biết bị tăng huyết áp, hoặc là biết nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được huyết áp về mức bình thường.
Nếu không được điều trị đúng và đầy đủ, người bệnh sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề như suy tim, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xuất huyết não, suy thận, giảm thị lực, mù lòa hoặc phình tách động mạch chủ... thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
“Huyết áp mục tiêu” là đích đến của người bệnh
Theo GSTS Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch quốc gia, khi đã được chẩn đoán bị huyết áp cao người dân cần được theo dõi, điều trị đúng, đầy đủ và liên tục.
Do là bệnh mạn tính nên bệnh nhân cần được theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”. “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là dưới 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được. Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt dưới 130/80 mmHg. Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời. Điều trị cần hết sức tích cực ở những bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích. Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu tại các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu.
Ngoài ra, người bệnh cần thực hiện các biện pháp tích cực thay đổi lối sống trong điều trị tăng huyết áp. Các biện pháp này được áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được số huyết áp, giảm số thuốc cần dùng. Đó là: chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: giảm mặn (dưới 6g uối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày), tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axit béo no; Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 23 kg/m2; Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 ở nữ; Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc/ ngày (nam), ít hơn 2 cốc/ ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc/ tuần (nam), ít hơn 9 cốc/ tuần (nữ); cốc tiêu chuẩn tương đương với 340 ml bia hoặc 140 ml rượu vang, hoặc 40 ml rượu nặng; Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào; Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày; Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý; Tránh bị lạnh đột ngột.
Làm thế nào kiểm soát bệnh nhân cao huyết áp tại cộng đồng?
Khám sàng lọc phát hiện sớm bệnh nhân huyết áp cao?
GSTS. Nguyễn Lân Việt cho biết, tháng 12 – 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định đưa dự án phòng chống huyết áp cao thành chương trình mục tiêu quốc gia. Một trong các hoạt động chính và quan trọng của chương trình này là khám sàng lọc phát hiện sớm huyết áp cao tại cộng đồng. Công tác khám sàng lọc này sẽ được triển khai tại các xã/ phường tham gia trong dự án cho người dân từ 25 tuổi trở lên. Tại các đợt khám sàng lọc, người dân được phỏng vấn theo phiếu khám sàng lọc, điều tra về tiền sử bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ tim mạch, được đo chiều cao, cân nặng để tính chỉ số khối cơ thể (BMI), được đo huyết áp, nhịp tim, được khám các biến chứng của huyết áp cao (nếu có). Dựa vào phiếu sàng lọc người dân sẽ được xác định có bị huyết áp cao hay không, được lượng giá mức độ nguy cơ bị bệnh tim mạch, đánh giá các biến chứng của huyết áp cao (nếu có) và xác định huyết áp mục tiêu cần đạt được khi bị huyết áp cao.
Điều trị và quản lý người bệnh huyết áp cao
Phần lớn người dân bị huyết áp cao phát hiện qua khám sàng lọc hoặc đã được chẩn đoán trước đó sẽ được theo dõi, điều trị và quản lý tại trạm y tế xã/ phường. Mỗi bệnh nhân sẽ có Sổ khám chữa bệnhriêng, được khám và tư vấn, phát thuốc hạ huyết áp (nếu cần) định kỳ hàng tháng tại trạm y tế xã/ phường. Nhân viên y tế tại các trạm y tế sẽ được tập huấn về các biện pháp theo dõi, điều trị và quản lý bệnh nhân huyết áp cao và các trạm y tế sẽ được cung cấp các trang thiết bị, sổ sách khám chữa bệnh, các tài liệu tuyên truyền, thuốc hạ huyết áp... cho công tác quản lý huyết áp cao như máy đo huyết áp, ống nghe, máy điện tâm đồ, sổ khám chữa bệnh, sổ quản lý bệnh nhân, tờ rơi, áp phích, pano tuyên truyền, các sách và tài liệu chuyên môn về huyết áp cao cho nhân viên y tế, cộng tác viên y tế...
Những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị hoặc có biến chứng hay có tình trạng bệnh vượt quá khả năng quản lý tại tuyến xã/ phường sẽ được chuyển đến các đơn vị phòng chống huyết áp cao ở cấp trên như tuyến quận/ huyện hoặc tỉnh/ thành phố hoặc Trung ương. Những bệnh nhân này sau khi đã được điều trị ổn định và kiểm soát được huyết áp cũng như các yếu tố nguy cơ sẽ được gửi về lại trạm y tế xã/ phường để tiếp tục theo dõi và quản lý bệnh lâu dài.








