Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 14/05/2008 15:06 (GMT+7)

Hữu Ngọc: Phật giáo phù hợp với tư tưởng người Việt

Thưa ông, ông lý giải thế nào khi Phật giáo được du nhập vào Việt Nam vàđã trở thành bản sắc của tư tưởng văn hóa Việt, là một thành tố của văn hóa Việt?


- Thế nào là giá trị văn hóa? Theo tôi, giá trị văn hóa nằm trong bản sắc dân tộc là một giá trị thể hiện qua biểu tượng, ký hiệu... chi phối tư duy và tình cảm của cá nhân và tập thể trong cả ý thức và vô thức. Nó quyết định cách ứng xử, giao tiếp của những người cùng trong một cộng đồng, khiến cho cộng đồng này khác với cộng đồng kia.


Tư tưởng Phật giáo đã nằm trong vô thức tập thể của dân tộc ta từ 2000 năm nay. Trừ 10% theo đạo Kito và một số đạo khác, 90% dân ta hoặc là có đi lễ Phật, hoặc không đi chùa, nhưng vẫn xếp vào loại Lương giáo nghĩa là theo đạo Phật.


Một bà già ở nông thôn dù không được học hành nhưng khi gặp cảm xúc mạnh thì vẫn thốt lên "Lạy 9 phương giời lạy 10 phương Phật". Với Nguyễn Du, thì truyện Kiều của ông cũng đã phản ánh tâm thức phật giáo thông qua bi kịch của con người. Nói như vậy có nghĩa là tư tưởng phật giáo đã thấm sâu và lan tỏa trong cả giới dân chúng ít học lẫn giới tri thức ở ta.


Trở lại vấn đề tại sao phật giáo được du nhập vào Việt Nam và đã trở thành tư tưởng văn hóa Việt. Để trả lời câu đó thì phải trở lại một nhận định có tính chất cơ bản của Văn hóa học, Nhân học... Theo nhận định đó, tất cả các yếu tố văn hóa mà một dân tộc mượn của dân tộc khác, khi đã được đa số nhân dân của dân tộc đó thực hiện, tan hòa trong những ứng xử hàng ngày thì yếu tố vay mượn đó đã trở thành một bộ phận của văn hóa dân tộc.

Tóm lại, có thể coi tư tưởng Phật giáo là một yếu tố hữu cơ trong bản sắc dân tộc Việt Nam.

Những đặctrưng nào trong tư tưởng Phật giáo mà dân tộc ta thấy phù hợp và phát triển thành những giá trị văn hóa đặc biệt của Việt Nam ?

- Thứ nhất, tư tưởng Phật giáo phù hợp với tư tưởng Việt Nam , nằm trong khung của tất cả các nền văn hóa nặng về tính cộng đồng hơn là tính cá thể. Theo những nhà nhân học có uy tín thì có thể chia các nền văn hóa thế giới thành hai loại: văn hóa nặng về ý thức cộng đồng (những nền văn hóa có bối cảnh tiếp xúc cao: high contact communication culture) và Văn hóa có bối cảnh giao tiếp thấp.


Tư tưởng Phật giáo hợp với ta vì nằm trong khung cảnh văn hóa nặng về cộng đồng. Sở dĩ như thế ngay khi hình thành dân tộc vì cộng đồng người Việt rất gắn với nhau chặt chẽ để chống ngoại xâm phương Bắc và chống thiên tai lụt lội bằng cách đắp đê, sau đó ý thức cộng đồng lại được củng cố và phát triển mạnh hơn bởi sự du nhập của Khổng học. Khi đưa Phật giáo vào đầu Công nguyên thì cũng nằm trong ý thức cộng đồng.


Dĩ nhiên, đối với tư duy Phật giáo, không thể quan niệm ý thức cộng đồng như Khổng giáo hay truyền thống của ta, nhưng có một điều chắc chắn là đạo Phật đi ngược lại Ấn Độ giáo, vì Ấn Độ giáo quan niệm có một atman - linh hồn bất tử, sau sẽ nhập vào linh hồn vũ trụ, Brahman. Nhưng Phật giáo cho là mọi thứ đều vô thường, nên không có linh hồn cá thể bất tử. Và tất cả con người cũng như sinh vật chẳng qua do thập nhị nhân duyên kết thành, nên có sinh và có diệt, và cuộc đời chẳng qua là những ảo ảnh, và những giá trị của con người tạo ra chỉ đều là thoáng qua.

Về điểm này của Phật giáo có thể liên tưởng đến chủ nghĩa hiện sinh hiện tại. Đó là một điều khá lý thú mà cũng ít người nghĩ đến. Phật giáo hợp với chúng ta nó vì cùng trong khuôn của những nền văn hóa đề cao cộng đồng.

Có một điểm cần nhấn mạnh là ngay tại cơ sở xã hội Việt Nam của ta là làng xã thì ở làng xã nào cũng có một ngôi đình, có đền miếu và có thể có một hay vài ngôi chùa. Ngôi đình thì dựa vào trật tự tổ chức xã hội tôn ti trên dưới của Khổng giáo, còn miếu mạo thì thờ những vị anh hùng dân tộc, các thần thánh của tín ngưỡng dân gian. Còn ngôi chùa là thờ Phật.

Ngay trong tổ chức có đình, miếu, chùa ở đơn vị cơ bản trong xã hội đã thấy có sự điều hòa để giữ cho tâm thế người nông dân được thăng bằng. Là vì đình thờ Khổng tử đề cao quy tắc xã hội chặt chẽ, thể hiện cái đầu (lý trí), khiến cuộc sống ngăn nắp và khô khan. Nhiều khi cuộc sống vật chất có những sự phe phái đấu tranh gay go để áp bức. Để cho người nông dân thoải mái sống về tình cảm, con tim thì có chùa thờ Phật, để cân bằng giữa cái đầu và con tim, lý trí và tình cảm, ngay ở cơ sở tâm thức thấp nhất của nhân dân.


Bìa sách Lãng du trong Văn hóa Việt Nam của Hữu Ngọc
Bìa sách Lãng du trong Văn hóa Việt Nam của Hữu Ngọc
Tâm thức cộng đồng và điều hòa các mối quan hệ như vậy đúng là có tác dụng và cần được xem xét kỹ, nhưng với nền văn hóa đặt trọng tâm nặng về cá thể sẽ sâu hơn rất nhiều. Với người ViệtNam thì đa phần dân chúng và một bộ phận không nhỏ trong giới trí thức đã hiểu không đúng về Phật giáo, ông nghĩ sao về điểm này?


- Phật giáo là vô thần, cấm thờ các tượng, vì Phật giáo coi tất cả là ảo tưởng, cả thần phật cũng là ảo tưởng. Những thứ cao xa như hữu ngã, vô ngã, hữu thường, vô thường... thì người dân không cần biết. Người dân chỉ biết bằng trái tim, họ cảm nhận được được từ bi, thương người như thể thương thân. Người dâ không cần biết có tôi (Hữu Ngã) hay không có tôi (Vô Ngã) mà họ đến chùa để tìm sự an ủi. Nhưng quan trọng nhất về phương diện xã hội học là có hai cơ sở để cân bằng, tìm được nguồn an ủi trong những công việc hàng ngày. Đứng về phương diện tâm lý trị liệu học là rất quan trọng.


Nhưng chính sự điều hòa, an ủi này lại góp sức kìm hãm sáng tạo cá nhân?


- Đặt ngược vấn đề như thế thì sẽ phải mở sang những vấn đề khác. Ở đây chúng ta cần phải giải quyết cái lớn trước. Ý kiến thứ ba tôi muốn nói, đạo Phật thành thành phần hữu cơ của văn hóa Việt Nam . Văn hóa Việt Nam như tôi đã trình bày trong quyển "Lãng du qua các nền văn hóa Việt". Ngay ở bìa là cây đa đại diện cho văn hóa Việt Nam . Gốc là 1000 năm trước công nguyên (văn hóa đồ đồng, văn hóa lúa nước của Đông Nam Á); 4 nhánh ảnh hưởng văn hóa nước ngoài, pha trộn và Việt hóa thành ra giá trị văn hóa mới. (Trung Quốc trong đó có một phần Ấn Độ qua Phật giáo; Pháp; 30 năm cách mạng và chiến tranh, miền Bắc theo CNXH và miền Nam theo phương Tây và từ 1986 đến nay là Đổi mới).

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.