Hương lau – cây tinh dầu quý cần được phát triển
Theo Võ Văn Chi, trong Từ điển cây thuốc VN hương bài có tên khoa học là Vetiveria zizanioides, còn hương lau có tên khoa học là Danella ensifolia (L) thuộc họ hương lâu (Phormiaeae). Sự lẫn lộn, trùng lặp trong tên gọi đã gây ra không ít những nhầm lẫn. Tuy nhiên cũng có được sự thống nhất Vetiveria zizanioides là hương lau.
Gần đây, Lã Đình Mỡi và cộng sự ở Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật đã xác định có 2 nhóm hương lau ở Việt Nam: Hương lau mọc dại sinh trưởng trên các bãi đất hoang ngập nước theo mùa có hàm lượng và chất của tinh dầu (TD) thấp và hương lau trồng với hai dòng khác nhau về màu sắc của hoa, bó nhuỵ và chỉ số lý, hoá của TD.
Từ thập niên 60 của thế kỷ trước ở ven biển Thái Thuỵ, Tiền Hải (Thái Bình) đã có diện tích trồng hương lau tới 30 ha để sản xuất TD. Từ những năm 80, khi các phương thức canh tác trên đất dốc phát triển, cây hương lau còn được dùng làm cây chống xói mòn đất.
Theo tài liệu của Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật, trong rễ hương lau trồng ở xã Thuỵ Hải (Thái Thuỵ, Thái Bình) chứa TD từ 0,82% đến 1,44% (trọng lượng nguyên liệu khô không khí). TD có màu nâu sáng đến nâu đỏ nhạt, hàm lượng xetone 13,3 – 28,91% (trọng lượng TD), rượu tự do (vetivenol) 46,34 – 52,0 %, chỉ số axit 25,0 – 49,8, chỉ số este: 25,66 – 55,80. Những số liệu trên cho thấy các chỉ số hoá lý của TD biến động trong khoảng đất rộng, chứng tỏ sự phụ thuộc của chất lượng TD vào rất nhiều yếu tố: xuất xứ, điều kiện lập địa nơi trồng, mùa và tuổi cây khi thu hái, kỹ thuật chế biến và phương pháp phân tích.
Đến nay nhu cầu TD hương lau trên thế giới khoảng 450 triệu tấn/năm. Có tới 70 nước trồng hương lau, trong đó Indonesia và Haiti xuất khẩu TD loài cây này là nhiều nhất (Indonesia xuất khoảng 100 – 180 tấn/năm; Haiti 100 tấn/năm), TD hương lau Haiti được xếp vào loại đặc biệt vì có hàm lượng vetivenol cao. TD Java, Indonesia rẻ hơn, chỉ được dùng trong sản xuất xà phòng. Indonesia còn xuất khẩu rễ hương lau sang châu Âu và Bắc Mỹ.
Hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu 100 tấn TD hương lau, Pháp 50T, Thuỵ Sĩ 30T, Anh 25 – 30 T, Nhật 10T, Đức 6T, Giá 1 kg TD loại tốt nhất vào khoảng 135 – 155 USD. Điều này cho thấy, nếu ở nước ta phát triển trồng cây hương lau lấy tinh dầu thì trị trường xuất khẩu là dồi dào và bán được giá.
Cây hương lau sau 1 năm kể từ khi trồng đã có TD trong rễ, nhưng cần phải 18 – 24 tháng hàm lượng TD mới đạt tối đa và chất lượng cao. Đó cũng là thời kỳ phải thu hái rễ, nếu chậm hàm lượng TD sẽ giảm, thành phần những chất khó bốc hơi sẽ tăng làm mất thời gian chưng cất. Rễ non dưới 18 tháng màu trắng, sau đó màu sẫm dần, có thể nhìn thấy những vòng tròn nâu, rễ quá già màu nâu sẫm. Phải rửa và phơi khô rễ ngay sau khi nhổ. Để tránh mất chất thơm cần rửa thật nhanh, sau đó không rửa lại. Rễ khô được giữ trong vài tháng mới chưng cất sẽ được TD có phẩm chất cao hơn TD chưng cất từ rễ tươi.
TD hương lau khó chưng cất vì những cấu tử chính của TD có nhiệt độ bay hơi cao, tỷ trọng của TD lớn hơn nước, có độ nhớt cao khó phân tách khỏi nước khi ngưng tụ. Chưng cất thủ công bằng hơi nước áp suất thường cần thời gian 70 – 80 giờ. Bộ phận ngưng tụ có 3 bình chứa và phải giữ nhiệt độ trong bình chứa 40 – 50 0C để hỗn hợp nước và TD phân ly dễ. TD thô sau đó phải được lọc nóng qua sunphat natri để khử nước trước khi trộn phân đoạn dầu nặng và nhẹ với nhau.
Chưng cất quy mô công nghiệp tiến hành bằng hơi nước 4 – 5 at. Nồi phải được cách nhiệt tốt để tránh hơi ngưng ở thành nồi, kéo dài thời gian chưng cất.
Hiệu suất TD phụ thuộc vào độ non, già của nguyên liệu và công nghệ chưng cất. Trong những điều kiện hoàn hảo hiệu suất của hương lau Thái Bình có thể đạt tới 1,5% so với rễ ở độ ẩm không khí. Nếu chưng cất thủ công chỉ đạt 0,6 – 0,8%. Bã sau chưng cất có thể dùng để sản xuất hương thang.
Sản xuất hương lau ở nước ta hiện còn quá nhỏ bé. Lượng rễ hương lau thu được ở các tỉnh chỉ để chưng cất thủ công và làm nhang. Muốn xuất khẩu được cần phải có diện tích trồng đủ lớn và tương đối tập trung, cỡ chục ngàn héc – ta trở lên.








