Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 25/02/2008 23:26 (GMT+7)

Hơn nửa thế kỷ “Dân cày có ruộng”

Đầu thế kỷ XX, đã có một trào lưu Duy Tân từ thế giới thổi dọc đất nước nhen lên khát vọng dân chủ cho một dân tộc có đa số là nông dân đang chịu ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến. Trong khi số đông các nhà yêu nước chỉ quan tâm đến vấn đề làm sao giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân thì chỉ có những người cộng sản là chú trọng đến một vấn đề rất quan trọng là làm sao huy động được hơn 90% dân chúng là nông dân vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đương nhiên, mục tiêu trực tiếp của một cuộc cách mạng dân chủ là thủ tiêu chế độ quân chủ. Chính vì thế, nếu khẩu hiệu đánh đổ vua quan chuyên chế của nhà ái quốc Phan Châu Trinh đã từng mang lại cho cụ lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với một chiến sỹ tiên phong trong phong trào dân chủ, nhưng không tổ chức được lực lượng cách mạng, thì khẩu hiệu “ ruộng đất cho dân cày” duy nhất do những người cộng sản đưa ra đã trở thành sức hấp dẫn thu hút đông đảo tầng lớp đông đảo nhất của xã hội Việt Nam là nông dân đi theo cách mạng. Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) là một bằng chứng. Nhưng phương thức mang lại ruộng đất cho dân cày thì có những cách khác nhau.

Nếu như Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị hợp nhất để thành lập ĐCSVN (3-2-1930) đã đưa ra “ Chánh cương sách lược vắn tắt”, khi đề cập tới “thổ địa cách mạng” chỉ đưa ra mục tiêu “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo” và “bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo”; còn trong “ Sách lược vắn tắt” thì chỉ “đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”… Thì tới Cương lĩnh của Tổng bí thư Trần Phú mang từ Quốc tế Cộng Sản đến Hội nghị trung ương lần thứ Nhất (10-1930) lại đề cao đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, đã “thủ tiêu” các văn kiện đã được Hội nghị hợp nhất thông qua. Luận cương này đặt rõ mục tiêu “tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các giáo hội; giao ruộng đất ấy cho trung và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất về chánh phủ công nông”(Luận cương chánh trị); coi quan điểm của Chánh cương, sách lược vắn tắt là “sai lầm chánh trị và nguy hiểm”.

Cũng chính vì luận cương 10-1930 “coi địa chủ là cừu địch của nông dân mà đã thế thì phải đánh đổ và thâu hết ruộng đất của chúng nó” nên đã nảy sinh quan điểm cực đoan “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” khiến cho cao trào nổi dậy của nông dân như ở Nghệ Tĩnh những năm 1930-1931 đã thể hiện chí khí cách mạng vũ bão của người nông dân nhưng chịu thất bại trước bạo lực của kẻ thù vì những quan điểm tả khuynh đã làm nhụt vũ khí đoàn kết toàn dân…

Lịch sử chứng minh rằng, không phải bằng sức mạnh đấu tranh giai cấp mà bằng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được tập hợp quanh Cương lĩnh Việt Minh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mà dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập và người nông dân có cơ hội thực hiện được ước mơ ngàn đời của mình. Điều đáng ghi nhớ là chính cuộc cách mạng tháng 8-1945 do những người cộng sản của Hồ Chí Minh cùng sự góp sức của toàn dân đã xác lập nền dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời là một đỉnh cao của dân chủ, là thành tựu sáng chói của tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này hoàn toàn nhất quán với những gì Nguyễn Ái Quốc đã từng đưa ra trước đó gần hai thập kỷ (1924) khi nhấn mạnh đến những đặc trưng “đấu tranh giai cấp ở nước ta sẽ không giống với châu Âu” và “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn” để thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của Việt Nam.

Hồ Chí Minh hiểu lòng dân muốn làm gì sau khi đất nước đã độc lập. “Có độc lập mà nhân dân không được hưởng hạnh phúc là vô nghĩa”, phát biểu đầu tiên của vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ VNDCCH cho thấy việc mang lại hạnh phúc cho nhân dân mới là mục tiêu tối cao và tối hậu của cách mạng.

Hiểu người dân quê và ý thức vai trò của người nông dân trong lịch sử, hơn ai hết là Hồ Chí Minh. Sinh ra từ một làng nghèo của cải nhưng giàu lòng yêu nước; chứng kiến và tham gia phong trào chống thuế của những người nông dân Trung kỳ (1908); tham gia ban chấp hành và sáng lập tổ chức Quốc tế Nông dân của Quốc tế Cộng sản; chọn luận án nghiên cứu “về vấn đề nông dân và ruộng đất ở Đông Dương”…

Do vậy, khi trở thành người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Mịnh đã nêu chương trình hành động đầu tiên của Chính phủ là cứu đói và tăng gia sản xuất để khắc phục hậu quả của nạn đói tàn khốc đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu đồng bào, chủ yếu là những người nông dân nghèo khổ.

Tấm bằng khen đầu tiên dành cho thành tích của người nông dân, đội quân hùng hậu tham gia đắp đê chống lụt. Những sắc lệnh đầu tiên được ký là bãi bỏ các thứ thuế đánh vào người nông dân; thuế thân, thuế chợ, thuế đò. Một trong những văn bản ngoại giao đầu tiên là “sẵn sàng gửi 50 thanh niên Việt Nam ưu tú sang học kỹ nghệ canh nông của Hoa Kỳ” (Thư gửi tổng thống Mỹ, 11-1945).

Người đứng đầu nhà nước Việt Namkhẳng định: “Việt Nam là một nước nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc, Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông cậy vào người nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn…Nông nghiệp thịnh thì nước ta thịnh” (11-1946).

Để phát triển nền nông nghiệp và cải thiện từng bước đời sống của người nông dân nhưng vẫn giữ vững được khối đại đoàn kết toàn dân, làm nền tảng cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, công việc đầu tiên của Chính phủ Hồ Chí Minh là ra thông tư (13-11-1945) giảm 25% địa tô với tá điền và những người cấy rẽ, cấy thuê. Trước cách mạng, người nông dân chiếm hơn 90% dân số chỉ có 30% ruộng đất, do vậy thông tư trên đã bước đầu giảm bớt sự đói nghèo cho những người nông dân không có ruộng. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích rằng đó là cách mang lại sự công bình, lợi cho cả điền chủ và nông dân. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, thông tư giảm 25% địa tô được nâng lên thành sắc lệnh (14-7-1949), bổ sung thêm nội dung giảm tức (vay nặng lãi bằng tiền hay thóc rất phổ biến trong nông thôn lúc đó) và một sắc lệnh tiếp theo bắt đầu tạm cấp ruộng đất thu của Việt gian và các chủ đồn điền thực dân. Đầu năm 1950 số ruộng tạm cấp được bổ sung thêm bằng số đất vắng chủ trong vùng tự do; rồi qua năm 1952, chính phủ lại ban hành điều lệ tạm thời về việc chia công điền nhằm quan tâm đến những người nông dân nghèo thiếu ruộng. Cần lưu ý là trong thời kỳ chiến tranh, tất cả đều được coi là “tạm cấp” để khi có điều kiện nhà nước sẽ có một bộ luật hoàn chỉnh hơn. Nhờ vậy mà cho đến năm 1953 đã có hơn 300.000 ha được tạm cấp cho nông dân, tức là gấp rưỡi số ruộng được chia cho nông dân thời kỳ Cải cách ruộng đất. Ở Nam bộ là nơi không thực hiện CCRĐ còn được bổ sung vào số đất do các điền chủ được vận động hiến điền nên số ruộng đã tạm chia cho nông dân lên tới 560.000 ha cho ngót 520.000 nông dân trong độ tuổi lao động. Như vậy với phương thức tạm cấp như vậy, từng bước tư liệu sản xuất đã đến tay người nông dân mà không phương hại đến khối đoàn kết toàn dân đang hợp sức tiến hành cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Trong thực tế vấn đề “ Cải cách thổ địa” cũng đã có lần được đưa ra bàn trong chính phủ, cũng như trong Đại hội Đảng lần thứ II (3-1951), nhưng mới chỉ là thiểu số và không được thông qua…

Những người nông dân mặc áo lính trên chiến hào Điện Biên Phủ đang đọc thư gửi từ quê nhà

Những người nông dân mặc áo lính trên chiến hào Điện Biên Phủ đang đọc thư gửi từ quê nhà

Nhưng từ năm 1953, vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng: chuyển sang thời kỳ tổng phản công. Phải huy động cao nhất mọi nguồn lực khôngchỉ trong nước với “nông dân là quân chủ lực”, mà còn phải tranh thủ được tối đa sự viện trợ, đặc biệt là vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc, là hai quốc gia trụ cột của phe XHCN, cũng là hai nước đòihỏi chúng ta thực hiện CCRĐ như một biểu thị cho tính cách mạng và cũng là điều kiện cho những viện trợ…Tất cả đã tạo ra mọi áp lực cho việc Quốc hội thông qua một bộ luật CCRĐ (12-1953). Đây cũng làbộ luật đầu tiên được soạn thảo kể từ khi Quốc hội thông qua hiến pháp (1946 - nhưng chưa ra sắc lệnh ban hành).

Những gì đã diễn ra sau 5 chiến dịch phát động kéo dài cho đến 2 năm sau ngày kháng chiến toàn thắng (1956) đã trở thành một thời đoạn lịch sử được ghi nhận là một cuộc vận động nông dân “long trời lở đất” như cách ví của bộ máy tuyên truyền đương thời, với nhiều bài học lịch sử đa chiều. Những sai lầm trong tổ chức thực hiện kết hợp với chiều hướng khuynh tả trong chủ trương “chỉnh đốn tổ chức” đã mang lại một tổn thất to lớn và hằn sâu trong ký ức một thời: “Không thể kể hết những cảnh tượng bi thảm…”(Tố Hữu, “ Nhớ lại một thời” (hồi ký), NXB Hội Nhà văn, H.,2000, tr.278).

Nhưng, đừng bao giờ vì thế mà quên ý nghĩa cao cả của mục tiêu “ruộng đất cho dân cày”mà CCRĐ chỉ là một bước hoàn tất không trọn vẹn. Những gì diễn ra trước đó cho thấy đã có một lượng ruộng đất rất lớn (gấp rưỡi số đất được chia trong CCRĐ) đã được tạm cấp cho nông dân mà không cần phải “đấu tố”.Nhưng những người dân cày truyền kiếp nghèo khổ được nhận ruộng lại là một nguồn lực vô cùng to lớn đối với chiến trường đang cần đến sự hy sinh để giành thắng lợi quyết định. Hình ảnh những người nông dân mặc áo lính ngồi trong chiến hào ở Điện Biên Phủ trước giờ xuất trận đọc lá thư nhà báo tin gia đình được nhận ruộng để chỉ chốc lát nữa là họ xông lên trước mũi tên hòn đạn của quân thù, giúp ta hiểu được phần nào cái ý nghĩa lớn lao đó. Rồi sau chiến thắng Điện Biên, việc người nông dân Thanh Hoá đói to vì đã dốc cả thóc giống lên chiến trường cho thấy sự hy sinh vô bờ bến của người nông dân với nghĩa cả của cách mạng… Dẫu sao thì CCRĐ cũng là một cái mốc biểu thị cho việc thực hiện mục tiêu lịch sử “người cày có ruộng”.

Nửa thế kỷ sau, khi nhắc đến CCRĐ cũng đừng quên một bài học ngày càng sâu sắc về một tinh thần dám chịu trách nhiệm, dám nhận lỗi trước nhân dân, dựa vào dân để sửa sai của một tổ chức cách mạng. Bài học vô tiền khoáng hậu về một tổng bí thư từng có công đầu trong cuộc Cách mạng giành độc lập, nhận trách nhiệm sai lầm trong CCRĐ và từ chức để rồi lại phấn đấu, ngót ba thập kỷ sau lại trở về cương vị tổng bí thư góp phần quan trọng khởi động cuộc Đổi mới.

Sau chiến thắng Điện Biên trong đó có công tích rất lớn của lực lượng chủ lực là nông dân, lịch sử còn ghi nhận một thành tựu mà ít ai còn nhớ. Có ruộng đất trong tay, người nông dân đã đẩy năng suất lên những kỷ lục mới: nếu như trước cách mạng (1945) năng suất ở Bắc Bộ trung bình khoảng 13 - 15 tạ/ha, thì năm đầu sau sửa sai (1975) đã đạt 17 tạ/ha, rồi 20,5 tạ (1958) và gần 23 tạ/ha (1959) đứng đầu năng suất trong khu vực Đông Nam Á.

Cách mạng đã đem lại cho người nông dân cái điều mà họ đã mơ ước từ ngàn đời, nhưng cách mạng lại muốn đem lại cho họ cái điều tốt đẹp mà chưa bao giờ họ biết tới, viễn cảnh về một lý tưởng cao cả mà các nhà nho phương Đông xưa từng nghĩ tới một “thế giới đại đồng” mà các nhà lý luận phương Tây gọi đó là chủ nghĩa xã hội. Bước đi đầu tiên để hướng tới đó là tập thể hoá. 15 năm tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn miền Bắc (1960) rồi tiếp đó thêm 5 năm trên cả nước (1976 - 1980) đã để lại một dấu ấn không phai mờ của một chủ nghĩa anh hùng cách mạng về sức chịu đựng và sự hy sinh của người nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Những hình ảnh người nông dân đem tất cả những phương tiện sản xuất (tài sản truyền đời và thành quả cách mạng ) để đưa vào hợp tác xã trở thành sở hữu tập thể… Rồi hình ảnh thời chiến, trai làng lên đường ra mặt trận, gái làng “3 đảm đang” gánh vác hậu phương.v.v… Lịch sử đã chứng kiến một nông thôn gồng mình gánh vác việc nước bảo đảm cho chiến thắng, nhưng nảy sinh biết bao mâu thuẫn mà chủ yếu tập trung ở hai vấn đề cơ bản : quan hệ giữa con người (người sản xuất) với ruộng đất (tư liệu sản xuất); giữa con người (xã viên) với con người (bộ máy quản lý) khiến hệ quả của nó là năng suất thấp và quản lý thiếu dân chủ. Những mâu thuẫn ấy đã đẩy nông thôn, sản xuất nông nghiệp đến sự khủng hoảng nghiêm trọng ở thập kỷ 80 của thế kỷ trước: một quốc gia nông nghiệp triền miên thiếu ăn và nhập khẩu lúa gạo, trong khi các con số thống kê cho thấy, cuối thế kỷ XIX từ đây đã xuất hơn nửa triệu tấn, và trước chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã xuất hơn một triệu rưỡi tấn gạo, trong khi nhà nước cũng gồng mình gánh nông thôn bằng một sự bao cấp không nhỏ : từ hạt thóc giống, thuốc trừ sâu,… phát không đến hệ thống tưới tiêu, thư viện và một nền giáo dục không thu tiền…

Chỗ dựa cuối cùng đối với người nông dân, nông thôn và sản xuất nông nghiệp lại bắt đầu từ cái mảnh đất 5% nhỏ nhoi mà mỗi hộ nông dân được giao. Nếu trên 95% ruộng đất, người nông dân làm việc theo tiếng kẻng hờ hững bao nhiêu thì trên cái mảnh đất 5% tuy chưa phải là sở hữu của mình nhưng người nông dân đã tìm thấy lợi ích và dồn sức lực cũng như niềm hy vọng cho nó. Ở bất kỳ đâu năng suất ở 5% này cũng cao hơn hẳn, mang lại hơn một nửa số thu nhập cho người nông dân, hơn hẳn 95% tư liệu sản suất đã tập thể hoá … Khoán chui bắt đầu từ Hải Phòng (An Hải, Yên Lãng) từ năm 1962; năm 1966 Ban bí thư đã ra thông tư 176 đề cập tới “3 khoán” ; đầu năm 1967, Bác Hồ về thăm Thái Bình đã đề cập tới việc thực hành dân chủ và tài chính công khai ; năm 1967 bí thư Vĩnh Phúc Kim Ngọc phá rào bằng phương thức “khoán gọn”, “khoán hộ”, thực chất là giao lại quyền sử dụng ruộng đất cho dân cày…

Nhờ đó sản lượng tăng gấp 4 lần so với 2 năm trước đó (1965)… Lo lắng sợ làm ăn cá thể sẽ từng “ngày từng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản”, “khoán Kim Ngọc” bị phê phán để rồi 10 năm sau, Chỉ thị 100 mới ban hành thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Nông thôn, nông nghiệp và người nông dân bắt đầu chuyển mình … cùng cả nước bước vào Đổi Mới (Đại hội VI, 1986) để “tự cởi trói”.

“Việc phân chia ruộng đất quá manh mún, tệ rong công phóng điểm, tình trạng phân phối lương thực qua thu nhập bình quân,… dành qúa nhiều khoản bao cấp cho xã hội, bao cấp qua giá và nạn chuyên quyền độc đoán, mất đoàn kết, mất dân chủ, tham ô, lợi dụng của cán bộ nhà nước đang làm cho xã viên thiếu phấn khởi gây trở ngại cho sản xuất phát triển”, đó là nhận định của Nghị quyết 10 (5-8-1988) khi nhìn nhận nguồn gốc sự suy thoái của phong trào hợp tác hoá thập kỷ 80. Với nghị quyết này, đất canh tác đã tập thể hoá được giao hẳn cho hộ xã viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh, được làm chủ hoàn toàn, số nông sản được làm ra theo cơ chế kinh tế thị trường… công cuộc Đổi Mới thực sự mở ra cho người nông dân. Không còn 5% nữa mà cả 100% đất được giao vào tay người nông dân lại cho chúng ta thấy một “sự thần kỳ” mới.

Mới năm 1986, nước ta còn phải nhập 534.000 tấn gạo, 1988: 395.900 tấn gạo, thì ngay những vụ thu hoạch đầu tiên sau Nghị quyết 10, người nông dân Việt Nam đã đưa sản lượng lên ngót 20 triệu tấn và dành ra 1,4 triệu tấn gạo để xuất khẩu. Con số ấy cứ tăng dần cùng thời gian: 1,9 triệu tấn (1992), hơn 2 triệu tấn (1995)… Và cho đến nay luôn giữ vững trên 4 triệu tấn, trở thành quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.

Và sẽ không đầy đủ nếu không biết rằng, cùng với sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, bên cạnh sản xuất lúa gạo, người nông dân cùng các thành phần doanh nghiệp khác còn làm ra biết bao điều thần kỳ trên các lĩnh vực sản xuất và chế biến khác như cà phê, hồ tiêu, nuôi hải sản v.v… Và tất cả những thành tựu đó đếu bắt nguồn từ đất đai và ứng xử của con người đối với đất đai.

Với Hiến pháp 1992 và tiếp đó là Luật Đất đai được ban hành năm 1993, lần đầu tiên trong lịch sử, “sở hữu tư nhân” về đất đai bị thủ tiêu đã tạo ra nhiều tác động trái chiều, mà qua 3 lần sửa đổi đang được điều chỉnh cho luật tác động tích cực vào quá trình Đổi Mới. Không được sở hữu nhưng được giao quyền sử dụng rộng rãi và lâu dài, người nông dân với quyền tự chủ đối với đất đai của mình lại tiếp tục chứng minh năng lực làm ra của cải nhưng cũng đẩy nhanh hơn quá trình phân hoá xã hội. Khái niệm “địa chủ” giờ đây đã lùi xa thành “thuật ngữ lịch sử”, còn những người chủ đất hôm nay sẽ tồn tại và phát triển nhờ năng lực thích ứng với kinh tế thị trường để làm ăn ngày một lớn, tích tụ ruộng đất ngày một cao…

Nhưng với một loại tài nguyên không sinh sôi được mãi là đất đai, phần còn lại của những người nông dân không còn đất lại không được thu hút vào sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế sẽ còn là một vấn đề nhức nhối. Đó là những mảng tối trong bức tranh sáng sủa mà chúng ta đang chứng kiến ở những năm đầu tiên của thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới đầy hứa hẹn và thách đố. Đó là bức tranh tổng quan của hơn nửa thế kỷ “dân cày có ruộng”.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.