Hội truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ.
“Hội Truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ ra mắt quốc dân. Gần hai tiếng đồng hồ, Đài Vô tuyến Sài Gòn truyền thanh trên các làn sóng những lời kêu gọi thiết tha của Hội Truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ khắp cả giang sơn Nam Việt và các vùng hải ngoại.
“Hưởng ứng lời hiệu triệu của báo giới, Đài Vô tuyến điện Sài Gòn, sớm mai chúa nhựt 5 tháng 11 năm 1944, các tầng lớp dân chúng của Sài Gòn hoa lệ kéo đến đông đảo tại rạp Nguyễn Văn Hảo để dự kiến buổi ra mắt của Hội Truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ.
“Theo chương trình sắp đặt trước, đúng 9 giờ mới khởi đầu cuộc lễ, nhưng từ 7 giờ, đã có nhiều người lần lượt đến nơi, và qua 8 giờ rưỡi thì rạp hát Nguyễn Văn Hảo đã trở nên chật chội trước lượn songs người cứ ồ ạt tràn vào như nước trên nguồn đổ xuống. Chỗ ngồi đã hết, chố đứng cũng khó chen chân. Sau 8 giờ rưỡi, Ban Tổ chức đành xin lỗi số người đến trễ và mời họ ra ngã tư Kitchener (nay là đường Nguyễn Thái Học) và bùng binh chợ Bến Thành để nghe vô tuyến trực tiếp truyền thanh.
“Đúng 9 giờ, trên hàng ghế danh dự vào giờ chót, (Thống đốc Nam kỳ bận việc xin kiếu), chúng tôi thấy quí ông Pariot, Quận trưởng địa phương Sài Gòn - Chợ Lớn, Perrucat, Giám đốc Nha học chánh Nam kỳ, các nhân viên Sở Thông tin, báo giới, Ty Kiểm duyệt và đông đảo thân hào nhân sĩ, doanh gia đều có mặt.
“Phút nghiêm trang của buổi lễ ra mắt bắt đầu trong sự yên lặng kỳ diệu xuất phát từ trong tim của mỗi người. Trên san khấu, trước ống truyền thanh, ông Nguyễn Văn Cổn, Phó giám đốc Đài Vô tuyến Sài Gòn, giới thiệu với thính giả: Ông Nguyễn Văn Vĩ, Chánh Hội trưởng Ban Trị sự lâm thời của Hồi Truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ đọc diễn văn khai mạc lễ ra mắt quốc dân. Bằng mấy lời đơn giản, chân thật, đầy nhịêt huyết tín thành, ông Hội trưởng với một giộng nói rõ ràng, giảng giải vì sao mà Hội truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ ra mắt chậm trễ hơn ở Trung, Bắc đến hơn sáu năm trời. Diễn giả nêu ra những con số đáng ghê sợ: Nam phụ lão ấu của xứ Đồng Nai là 4.612.136 người, trong số ấy trẻ em có 2.350.772 em, mà các trường công, tư trong xứ chỉ chứa 165.040 em được cắp sách đến trường. Tính ra số trẻ em thất học đến 90%, ấy là chưa kể đạo binh mù chữ của người lớn tuổi. Tình trạng ấy, ông Nguyễn Văn Vĩ nói cần phải cứu vãn cấp thời, ngoài sự bảo trợ của chính phủ ra, toàn thể quốc dân trong xứ phải cùng nhau chung lưng đấu cật lại lập lên một đạo binh chống giặc dốt và mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ trên mặt trận này.
“Ông chánh hội trưởng dứt lời, một tràng pháo tay của thính giả hưởng ứng một cách tận tâm, nhiệt liệt”.
“Nối lời ông Hội trưởng, anh Khuông Việt, Tổng thư ký của Hội, đứng ra cắt nghĩa trước đồng bào quốc dân, cái mục đích cao siêu của Hôi Truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ là dạy người Việt biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ và thực hành tình tương thân tương ái, bằng cách dạy khôn lẫn nhau. Ngoài mục đích chính ấy, Hội còn dãy những môn phổ thông cần thiết cho đời sống của một người dân như vệ sinh thường thức, sử ký, địa dư, luân lý.v.v... Hội còn tổ chức các buổi diễn thuyết nói chuyện về các vấn đề hữu ích để lại cho tâm hồn người dân sức hăng hái hoạt động, lòng ham sống yêu đời. Hội lựa chọn những sách báo hay, quí, hướng dẫn người đọc để khởi lạc lối lầm đường và sau cùng, Hội khuyến khích ủng hộ các công trình khảo cứu, sáng tác về quốc ngữ.
“Giải rõ xong mục đích của Hội Truyền bá Quốc ngữ, anh Khuông Việt trình bày về tổ chức của Hội từ Trung ương đến các tỉnh, quận hội, chi hội và chương trình hành động của Hội. Tiếp theo, ông Phạm Thiều, giáo sư trường Trung học Petrus Ký, lên máy ghi âm. Với giọng nói trầm hùng, rành mạch, nhắc những người xưa về sự học. Diễn giả như khêu gợi, như mời thỉnh thiết tha của cụ Võ Trường Toản, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu và các môn đệ như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định,v.v... trong các thời buổi loạn ly ấy. “Các bậc tiền nhân nói trên đã âm thầm làm việc, mở trường dạy học, đào tạo sĩ phu, giữ vẹn can trượgn, noi gương chính khí có thể tiêu biểu cho tinh thần của giống nòi Lạc Việt thời bấy giờ”.
“Thời xưa, các cụ đã làm công tác giáo dục giữa cơn binh đao khói lửa. Đời nay, Hội Truyền bá Quốc ngữ Nam kỳ cũng ra đời trong lúc bốn phương súng nổ, đạn bay, dưới sự tán trợ của Chính phủ và lòng thành tâm nhiệt huyết của toàn thể quốc dân. Kết thúc bài nói, ông Phạm Thiều kêu gọi: đây là dịp mà quốc dân đồng tâm hiệp lại, đây là chỗ gặp gỡ giữa trí thức và bình dân, giữa lão thành và thanh niên, giữa mày râu và khăn yếm”.
“Trung, Nam, Bắc chị cùng em,
Chị em nghe đó con chim gọi đàn”.
![]() |
| Bìa nội san Hội Truyền bá Quốc ngữ. |
“Trước khi bế mạc, ông Huỳnh Tấn Phát, trưởng ban Cổ động của Hội Truyền bá Quốc ngữ đứng ra cảm tạ đồng bào đã nhiệt tâm hưởng ứng, ủng hộ bằng sức lực và tiền tài cho Hội Truyền bá Quốc ngữ là một điều rất cần ích cho đại chúng. Sự đồng tâm ấy, theo lời anh Trưởng ban Cổ động, phải chăng rằng chúng ta gần nhau trên chỗ đau lòng, nhận thức rằng trình độ tri thức của dân ta còn kém cỏi và xã hội Việt Nam có tiến chăng không phải vì một ít người có học lực cao, mà chính là cần có một đại chúng mở mang rộng. Một tràng pháo tay chấm dứt buổi lễ ra mắt với khẩu hiệu “Vạn tuế Hội Truyền bá Quốc ngữ!”.
“Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vừa hùng biện, vừa khả ái kêu gọi anh em chống dốt trước mặt Thanh tra Học chánh Nam kỳ ngồi yên, mặc nhiên chấp nhận phong trào nhân dân chống dốt. Âm vang buổi lễ ra mắt Hội Truyền bá Quốc ngữ từ giới này truyền sang giới khác. Đây là một Hội của người Việt đứng ra thành lập, tổ chức, được Sở Vô tuyến truyền thanh ủng hộ bằng cách trực tiếp truyền thanh suốt hai giờ đồng hồ. Đó là điều mà từ trước đến nay, thực dân chưa bao giờ làm. Hơn nữa, phong trào “Truyền bá Quốc ngữ” lan tràn từ Bắc vào Trung rồi vào Nam như một làn sóng ngầm trong nhân dân, nó lột trần chính sách ngu dân mà thực dân Pháp đã thi hành trên toàn cõi Đông Dương khi chúng chính thức chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho đến năm 1944. Do đó mà suốt 80 năm cai trị đã trôi qua, số người Việt Nam thất học còn trên 90% tổng số dân trong nước. Một không khí tuyên truyền vận động, đâu chỉ về mặt giáo dục, mở mang dân trí khiến giới trí thức được kích động lôi cuốn nhau vào Hội Truyền bá Quốc ngữ, coi đấy là một chỗ giúp ích cho đời, cho xã hội, là chỗ phát huy nhiệt tình và khả năng đa bị hoàn cảnh xã hội đè nén, bế tắc từ lâu nay”.
“Thật là một cuộc họp quan trọng, nghiêm trang giữa thành phố Sài Gòn, mà số người tham dự kỷ lục cao nhất từ xưa đến nay. Từ 9 giờ dến 10 giờ 40 phút, hôm ấy, ỏ các tỉnh, quận, nơi nào có đặt máy thu thanh công cộng, quần chúng tủ họp nhau nghe và hưởng ứng lời hiệu triệu thiết tha của Hội Truyền bá Quốc ngữ. Họ đến và nghe với tất cả nhiệt thành, với muôn niềm hy vọng để rồi đồng đứng lên chống nạn mù chữ trong xứ”.
Từ sau buổi lễ (5-11-1944), các vùng, các quận hội, chi hội, tỉnh hội lần lượt tổ chức lễ ra mắt đồng bào. Các anh trong Ban Cổ động Trung ương đến dự, diễn thuyếtvà phát động phong trào. Các Tiểu ban Huấn luyện, Giáo huấn hoạt động tiếp theo, bắt tay vào giai đoạn thực hành. Huấn luyện giáo viên xong, chuẩn bị học liệu, nơi học, vận động đồng bào đến học. Hội lần lượt mở 5 lớp tại Sài Gòn - Chợ Lớn:
- Trường Phàm Trần, đường Arras (nay là đường Cống Quỳnh).
- Trường Nguyễn Tiền, Quai de la Marne (nay là bến Vân Đồn).
- Hãng thuốc lá M.I.C.
- Trường Nguyễn Háo Kiển, đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi, quận 1).
- Trường Phủ Huỳnh, đường Armand Rousseau (nay là đường Nguyễn Chí Thanh).
Phong trào “Truyền bá Quốc ngữ” trong các buổi sinh hoạt của các cấp từ Ban Trị sự Trung ương đến các tỉnh hội, quận hội, chi hội và sôi nổi nhất là trong các buổi họp của anh chị em giáo viên và các Tiểu ban, đưa ra quyết định và được toàn thể áp dụng và chỉ dùng tiếng Việt trong buổi họp, không được xen tiếng Pháp trong các câu chuyện. Ai nói xen vào một tiếng Pháp trong câu chuyện phải chịu nộp phạt một cắc (0$10) sung vào quỹ của Hội. Trong những tháng đầu, số tiền phạt lên rất cao, lần lần chỉ còn là một số không đáng kể. Trước kia, diễn tả một tư tưởng bằng tiếng Việt khó khăn lúng túng bao nhiêu, thì bây giờ suôn sẻ, dễ dàng bấy nhiêu. Thế là Hội Truyền bá Quốc ngữ đã bước sang địa hạt chính trị, là loại bỏ tiếng Pháp trong ngôn từ Việt Nam . Dạy nhau, nhắc nhau tôn trọng tiếng Việt trong ngôn ngữ hàng ngày làm sống lại tinh thần dân tộc Việt Nam đang lu mờ dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.
Nguồn: Xưa và nay số 246 tháng 10 - 2005 trang 30, 31.









