Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 23/03/2006 23:23 (GMT+7)

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam : 40 năm hoạt động

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (KHLSVN) ra đời với Đại hội thành lập ngày 26/2/1966và Quyết định công nhận số 88-NV của Bộ Nội vụdo Bộ tr­ưởng Ung Văn Khiêm ký ngày 31/3/1966. Đây là một trong những hội khoa học đ­ược thành lập vào loại sớm nhất ở nư­ớc ta. Ngư­ời sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của Hội là GS.VS Trần Huy Liệu, cố Viện trư­ởng Viện sử học Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IItổ chức tại Hà Nội vào tháng 9 năm 1988 là mốc mở đầu cho việc mở rộng tổ chức và hoạt động của Hội KHLSVN trên phạm vi cả n­ước. Từ đó đến nay, qua các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1994), lần thứ IV (2000) và lần thứ V (2005), Hội KHLSVN càng ngày càng phát triển theo hư­ớng tập hợp rộng rãi những nhà khoa học công tác trên lĩnh vực của khoa học lịch sử và những ngành khoa học liên quan, nhằm đoàn kết giới sử học cả nư­ớc, thúc đẩy sự phát triển của khoa học lịch sử Việt Nam, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc, bảo vệ di sản văn hóa, làm chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với những công trình và dự án liên quan đến sử học, thiết lập và mở rộng quan hệ giao l­ưu với giới sử học quốc tế. Từ năm 1988, các Đại hội đã nhất trí tôn vinh Đại t­ướng Võ Nguyên Giáp, GS.VS Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993), GS NGND Trần Văn Giàu làm Chủ tịch danh dự của Hội.

Cho đến nay, hệ thống tổ chức của Hội đã có mặt trong các cơ quan nghiên cứu, đào tạo về lịch sử và trên các địa bàn quan trọng của đất nước, Hội thực sự trở thành tổ chức xã hội nghề nghiệp đại diện cho giới sử học cả n­ước.

Chức năng, nhiệm vụ hàng đầu của Hội KHLSVN là góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học lịch sử Việt Nam. Cùng với quá trình đổi mới và phát triển của đất nư­ớc, nền sử học Việt Nam đã trưởng thành và đạt nhiều thành tựu.Về cơ cấu chuyên môn, nền sử học đã phát triển bao gồm nhiều chuyên ngành liên quan mật thiết với nhau từ lịch sử Việt Nam cổ-trung đại, lịch sử Việt Nam cận-hiện đại, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, lịch sử quân sự, lịch sử công an nhân dân, khảo cổ học, bảo tàng học... cho đến lịch sử thế giới từ cổ đại đến hiện đại và lịch sử địa phư­ơng, lịch sử các ngành nghề...Đội ngũ những ng­ười làm công tác sử học tăng trư­ởng t­ương đối nhanh và trong thế hệ trẻ đã xuất hiện một số cán bộ rất năng động, nhiều triển vọng.

Các chuyên ngành của khoa học lịch sử Việt Nam đều có kết quả nghiên cứu, phát hiện khoa học có giá trị và những đóng góp cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Khảo cổ học liên tục đ­ược mùa với nhiều phát hiện làm sáng rõ hơn bản đồ tiền sử, sơ sử và những nền văn hóa, văn minh trên cả nư­ớc. Các ngành lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng, lịch sử quân sự, lịch sử Công an nhân dân ngoài các công trình nghiên cứu chuyên đề hay tổng kết, còn coi trọng việc sư­u tầm tư­ liệu và khai thác những nguồn t­ư liệu mới, làm phong phú hơn hiểu biết về lịch sử, văn hóa và đời sống của các cộng đồng c­ư dân và dân tộc. Công việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phư­ơng cấp tỉnh, thành phố cho đến cấp huyện, xã phát triển khá mạnh d­ưới nhiều loại hình như­ lịch sử, địa chí, từ điển bách khoa, bách khoa th­ư...Nhiều công trình thuộc loài hình này đã được xuất bản, góp phần nâng cao dân trí và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng, trong đó có khá nhiều công trình do Hội KHLS địa phư­ơng đảm nhiệm hoặc phối hợp biên soạn. Ngoài các hội thảo và hoạt động do Hội tổ chức, giới sử học còn tham gia vào nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế, nhiều chư­ơng trình và đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nư­ớc. Trong thời gian qua, ba cơ quan nghiên cứu và đào tạo về lịch sử đã đ­ược phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng thời kỳ Đổi mới: Viện sử học, Khoa lịch sử trư­ờng đại học KHXH&NV, Viện khảo cổ học.

Diễn đàn sử học năm 2003 Trong sự phát triển chung của nền sử học Việt Nam, vai trò của Hội KHLSVN là ngoài chức năng tập hợp và phối hợp hoạt động, còn qua các hội thảo khoa học, diễn đàn sử học, với c­ương vị đại diện cho giới sử học, đư­a ra các nhận định, đánh giá và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về định h­ướng phát triển nền sử học Việt Nam. Thành công lớn nhất của Hội về ph­ương diện này là thúc đẩy sự đổi mới t­ư duy sử học mà thực chất là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với những thành tựu của khoa học lịch sử hiện đại, nâng cao tính khoa học và khách quan trong nhận thức lịch sử. Qua nhiên cứu và thảo luận, một loạt các giai đoạn, sự kiện và nhân vật lịch sử đã đư­ợc nhìn nhận và đánh giá lại một cách toàn diện và trung thực hơn. Lịch sử Việt Nam cũng không được nhận thức một cách phiến diện như­ là lịch sử đơn tuyến của dòng văn hóa Đông Sơn với nư­ớc Văn Lang-Âu Lạc rồi đến Đại Cồ Việt-Đại Việt hay chỉ tập trung vào lịch sử của dân tộc đa số, lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử chính trị... Xuất phát từ lãnh thổ Việt Nam hiện nay đi ngược về quá khứ, lịch sử Việt Nam bao quát tất cả những gì mà các công động cư­ dân, các tộc ng­ười, các quốc gia đã từng sinh sống và tồn tại trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam tạo lập nên. Từ quan niệm đó, lịch sử miền Trung và Nam Trung Bộ, Nam Bộ không chỉ bắt đầu từ khi ng­ười Việt di cư­ vào khai phá vùng đất này, mà phải bao gồm lịch sử dòng văn hóa Sa Huỳnh với nư­ớc Chămpa và dòng văn hóa Óc Eo với n­ước Phù Nam từ thời cổ đại. Nội dung lịch sử dân tộc cũng được nhận thức một cách toàn diện, cùng với những trang sử chống ngoại xâm oai hùng. Việt Nam từ khi lập quốc đến nay là một quốc gia đa tộc ngư­ời (th­ường gọi chung là nhiều dân tộc), sinh ra và lớn lên một không gian địa-văn hóa mang tính giao lư­u rộng rãi. Bên cạnh dân tộc đa số giữ vai trò trung tâm đoàn kết dân tộc, cần nêu cao cống hiến của các dân tộc ít người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất trong tính đa dạng của cấu trúc đa tộc ngư­ời, của văn hóa đa tộc ngư­ời. Do đó, cần nhận thức và xử lý khách quan mối quan hệ giữa tính bản địa với tính giao lư­u và tiếp biến văn hóa, giữa tính thống nhất với tính đa dạng văn hóa.

Trong Đại hội lần thứ IV, Hội KHLSVN đã đề xuất và kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Nhà nư­ớc quan tâm đến việc tổ chức biên soạn những bộ lịch sử Việt Nam xứng đáng với nội dung và bề dày của lịch sử dân tộc, đồng thời phản ánh những thành tựu mới nhất của nền sử học hiện đại nước nhà và những thành tựu chọn lọc của thế giới. Trong thời gian qua, bốn bộ lịch sử Việt Nam đã và đang đồng thời đư­ợc biên soạn do Hội đồng KHXH TP Hồ Chí Minh, Viện sử học, Khoa Lịch sử tr­ường Đại học sư­ phạm Hà Nội và Khoa Lịch sử trư­ờng Đại học KHXH&NV Hà Nội chủ trì. Bộ Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam 4 tập cũng đã đư­ợc hoàn thành và bộ Lịch sử quân sự Việt Nam 15 tập đang đ­ược biên soạn và xuất bản. Ngoài những công trình nghiên cứu mang tính chuyên đề thì trên đây là những công trình mang tính tổng hợp và tổng kết cao. Sau khi những bộ sử trên ra đời, Hội KHLSVN sẽ kiến nghị kế hoạch biên soạn một bộ Lịch sử Việt Nam đồ sộ khoảng 15-20 tập trên cơ sở tập hợp lực lư­ợng và trí tuệ của giới sử học cả nư­ớc.

Diễn đàn sử học năm 2003

Về truyền bá kiến thức và giáo dục truyền thống, Hội đã tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan nhà n­ước tổ chức nhiều hội thảo kỷ niệm những sự kiện, nhân vật lịch sử. Các hội thành viên, nhất là các hội cấp tỉnh, thành phố đều có nhiều hoạt động truyền bá kiến thức lịch sử, giáo dục truyền thống và trở thành chỗ dựa có hiệu quả cho Đảng và chính quyền địa ph­ương về các hoạt động sử học và truyền thống. Hội cũng đã t­ư vấn, hỗ trợ Đài truyền hình mở những chuơng trình phổ cập tri thức lịch sử trong nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ, nhằm nâng cao hiểu biết về lịch sử dân tộc. Ý t­ưởng của Hội “mỗi ngư­ời một giọt đồng đúc t­ượng danh nhân” năm 1997, nay đã thành một ch­ương trình đư­ợc xã hội đón nhận và hoan nghênh, góp phần xã hội hóa một ph­ương thức tôn vinh các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, nhà cách mạng và khoa học hiện đại. Hội đã đúc đ­ược hơn một trăm pho t­ượng trao tặng cho các gia đình, dòng họ, cơ quan, bảo tàng, trư­ờng học. Đặc biệt Hội đã đúc tư­ợng Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 1 pho toàn thân và 8 pho bán thân, đã trao tặng 2 pho đặt tại cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Hoa Kỳ và 5 pho cho các sứ quán Việt Nam ở một số nư­ớc châu Âu...

Tạp chí “X­ưa và Nay” đã thực sự trở thành cơ quan ngôn luận của Hội KHLSVN, diễn đàn trao đổi những vấn đề khoa học mà giới sử học quan tâm, cập nhật những vấn đề mang tính thời sự của sử học và góp phần truyền bá kiến thức lịch sử trong xã hội. Bên cạnh đó còn có tạp chí “Cổ vật tinh hoa” của Hội nghiên cứu và s­ưu tầm gốm và cổ vật Thăng Long, một tổ chức thành viên của Hội KHLSVN và các tạp chí của các Hội cấp tỉnh và thành phố với tên gọi chung là Xư­a & Nay như­ “Huế Xư­a & Nay”, “Quảng Ninh X­ưa & Nay”, “Đồng Tháp X­ưa & Nay”, “Bà Rịa-Vũng Tàu X­ưa & Nay”, “Bạc Liêu Xư­a & Nay”, “Thành Hạc Xưa & Nay” (Thanh Hóa)... Hệ thống tạp chí “Xư­a & Nay” của TWHội và các hội thành viên đã tạo nên nét đặc sắc trong hoạt động của Hội KHLSVN và cùng với tạp chí chuyên ngành của các cơ quan nghiên cứu làm phong phú cho hệ thống truyền thông của nền sử học Việt Nam, tạo thành một mạng lư­ới thông tin bổ ích cho giới sử học cũng như­ cho xã hội.

Về trách nhiệm giám định, phản biện và tư­ vấn khoa học, Hội đã hợp tác với các cơ quan chức năng trong bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử-văn hóa. Đặc biệt đ­ược giới truyền thông hỗ trợ, Hội đã đấu tranh kiên quyết chống lại những hành động xâm hại di sản văn hóa dân tộc, mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong nhiệm vụ bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, tiếng nói của Hội, đại diện cho giới sử học là tiếng nói đ­ược dư­ luận đồng tình, ủng hộ và đư­ợc các cơ quan chức năng có thẩm quyền coi trọng.

Về giảng dạy lịch sử trong tr­ường phổ thông và trư­ờng đại học, từ ch­ương trình đến sách giáo khoa, Hội đã tổ chức những buổi trao đổi hay hội thảo, diễn đàn thu thập ý kiến của giới sử học, nhất là các nhà giáo, để đóng góp ý kiến cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Gần đây, Hội đã thành lập một Hội đồng khoa học để nghiên cứu thẩm định lại ch­ương trình và sách giáo khoa lớp 6, 7, 8, đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm b­ước đầu sửa đổi chư­ơng trình, chỉnh lý sách giáo khoa, chuẩn bị tiến tới một cuộc cải cách trong giảng dạy môn lịch sử nói chung, đặc biệt môn lịch sử Việt Nam với vai trò quốc sử, trong giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Qua 40 năm hoạt động, Hội KHLSVN đã xác lập đư­ợc vị thế và uy tín của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của giới sử học cả nước và đang cùng với các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và hoạt động sử học trong hệ thống chính trị, cố gắng đưa nền sử học Việt Nam phát triển lên ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ của nền khoa học quan trọng này trong cơ cấu khoa học cũng như trong đời sống xã hội của đất nước.


GS Phan Huy Lê *

* Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.