Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 01/08/2007 22:29 (GMT+7)

Hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống và nuôi bào ngư

I. Mở đầu

Bào ngư là một loài hải sản quý hiếm, thịt có hàm lượng dinh dưỡng cao, vỏ có thể dùng làm dược phẩm.

Ở Việt Nam , ngư dân chủ yếu khai thác bào ngư từ tự nhiên, vì vậy, sản lượng bào ngư giảm sút rất nhiều. Do đó, việc nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất giống và nuôi bào ngư là hết sức cần thiết.

II. Phương pháp nghiên cứu

1. Ðối tượng nghiên cứu

Bào ngư Haliotis diversicolor.

2. Ðịa điểm và thời gian nghiên cứu

Tại Quảng Ninh: Lạch Miều (1994), Cát Giá (1996), đảo Quan Lạn (1997 - 1998).

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Nuôi bào ngư và nghiên cứu các đặc điểm sinh học

Bào ngư khai thác ngoài tự nhiên, được phân theo các kích cỡ 3-5cm và 7-9cm. Nhốt từ 30 - 50 cá thể trong mỗi ống plastic dài 40cm, đường kính 12-15cm, hai đầu ống đều bịt lưới. Treo ống ở dưới bè hoặc giàn tre, gỗ. Cứ 3 ngày, cho bào ngư ăn rong biển một lần.

Hằng tháng, tiến hành xác định các chỉ số sinh học: Tỷ lệ sống, tốc độ tăng chiều dài và khối lượng thân.

3.2. Nghiên cứu sinh sản - Sản xuất giống bằng sinh sản nhân tạo

Quá trình phát triển tuyến sinh dục của bào ngư bố mẹ được chia thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: giai đoạn nghỉ;

- Giai đoạn 2: giai đoạn phát triển;

- Giai đoạn 3: giai đoạn thành thục.

Phương pháp kích thích bào ngư sinh sản:

Dùng phương pháp tăng, giảm nhiệt độ nước, kết hợp với chiếu tia cực tím trong thời gian ngắn sẽ kích thích bào ngư đẻ trứng, phóng tinh.

3.3. Thức ăn nuôi ấu trùng bào ngư

Thức ăn nuôi ấu trùng Veliger và Juvenile là các loài tảo khuê sống bám thuộc 2 giống Navicula và Nitzchia.

3.4. Bón phân và thay nước

Bón phân theo công thức: KNO3: 60 mg/l; NaHPO4: 10 mg/l; NaSiO3: 40 mg/l; FeCl3: 2 mg/l.

Thời gian thay nước và bón phân 3-5 ngày một lần.

3.5. Công tác khác

Chiếu sáng với cường độ từ 1.500-3.000 lux. Hai lần/ngày, vào lúc 7 giờ sáng và 2 giờ chiều, tiến hành theo dõi các yếu tố của môi trường nước như nhiệt độ, độ mặn, độ pH.

Tính tốc độ tăng khối lượng thân và giá trị trung bình theo phương pháp thống kê sinh học thông thường.

III. Kết quả nghiên cứu

1. Sản xuất giống bào ngư

1.1. Quy định chung

Quy trình sản xuất giống bào ngư H.diversicolor được xây dựng trên những kết quả nghiên cứu từ năm 1992-1995 của đề tài KN04-07 và năm 1996-1998 của đề tài cấp ngành do Viện nghiên cứu Hải sản chủ trì, được áp dụng cho những vùng sinh thái có đủ điều kiện nuôi bào ngư như: nhiệt độ nước 20-30 0C; độ mặn 30-32 0/ 00; độ trong > 4m; pH 8,0-8,2; độ sâu 3-3,5m.

1.2. Nuôi bào ngư bố mẹ

Nuôi nhốt trong ống plastic, tại vùng có độ mặn > 300/00, nhiệt độ nước 28-300C, độ trong cao. Cho ăn rong câu, rong mơ. Làm vệ sinh thường xuyên. Bào ngư có kích thước lớn: chiều dài vỏ 70-80mm; khối lượng 25-30g, tuyến sinh dục phát triển tốt.

1.3. Lựa chọn bào ngư bố mẹ cho sản xuất giống

Tuyến sinh dục phát triển tốt, chiếm 80-90% phần gan-dạ dày, con cái có màu nâu hoặc xanh đậm, con đực có màu trắng sữa, trứng tròn có màng bao xung quanh, tinh hoạt động mạnh, dễ tan trong nước.

1.4 Kích thích đẻ trứng thu trứng và thụ tinh

Kích thích đẻ bằng phương pháp gây sốc nhiệt kết hợp với chiếu tia cực tím 5 phút. Cho bào ngư đực, cái đẻ riêng để thu trứng và tinh.

1.5 Thụ tinh và thu ấu trùng Trochophore

Dùng lưới phù du thực vật lọc lấy trứng chuyển sang bể ương. Trộn trứng và tinh theo tỷ lệ 10/1, mật độ trứng từ 10-15 tế bào/ml, mật độ tinh 5-6.104 tế bào/ml. Sự thụ tinh xảy ra ngay sau đó, trứng chìm xuống đáy, bắt đầu xảy ra phân bào. Khi trứng đã thụ tinh, lắng xuống đáy, lọc bỏ phần nước phía trên chứa nhiều tinh và các dịch tế bào khác. Thay nước 3-5 lần cho kết quả tốt hơn.

1.6 Nuôi và quản lý bể nuôi ấu trùng

- Nuôi tảo khuê và chuẩn bị vật bám

Nuôi tảo trong môi trường có bón phân và cường độ chiếu sáng 2.000-3.000 lux thời gian chiếu sáng 8-10 giờ/ngày. Sục khí thường xuyên, thay nước 3 ngày/lần, sau 7-10 ngày tảo phát triển mạnh có thể sử dụng để lấy giống.

- Thu ấu trùng Veliger

Thay nước 3-5 lần/ngày trong giai đoạn đầu sau thụ tinh. Ngừng cấp khí đến khi nở thành ấu trùng Trochophore. Che tối bể ương. Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở thành ấu trùng Trochophore cao trên 90%.

- Nuôi thành bào ngư giống

Sục khí nhẹ, thường xuyên thay nước 2 lần/ngày thay 2/3 thể tích bể. Bổ sung thức ăn khi thấy có dấu hiệu tảo bị lụi. Khi bào ngư giống được 60 ngày tuổi, dài 7mm có thể thả nuôi ngoài vùng biển tự nhiên, có độ mặn cao 30-32 0/ 00. Tỷ lệ sống đến giai đoạn Juvenile đạt 10% trở lên

2. Kết quả sản xuất giống

- Ðã sản xuất được giống bào ngư với số lượng tương đối lớn: 50.000 con (1994) và 35.000 con (1997). Tích luỹ được những kinh nghiệm, ổn định kỹ thuật trong nuôi vỗ bố mẹ, cho đẻ và ương nuôi ấu trùng. Sử dụng các loại bể 25 lít, 100 lít, 1000 lít để cho đẻ và nuôi ấu trùng, chủ động nuôi bào ngư bố mẹ bằng các loại thức ăn trong nước. Tỷ lệ nở ấu trùng Trochophore là 90% và tỷ lệ sống đến bào ngư giống là 10%. Mật độ ương trong giai đoạn 1 là 5 con/ml, mật độ giống sau 40 ngày là 0,2 con/cm2 vật bám.

- Ðã giải quyết tốt nguồn thức ăn cho ấu trùng. Hoàn toàn có thể chủ động lưu giữ, phân lập tảo khuê từ các nguồn trong tự nhiên.

- Ðã đạt kết quả tốt trong việc gây sốc kích thích đẻ và làm thụ tinh nhân tạo.

3. Nuôi bào ngư thương phẩm

Ngư dân vùng Quảng Ninh, Hải Phòng chỉ quen khai thác bào ngư tự nhiên từ tháng 4-9 hàng năm ở các ven đảo. Phương thức khai thác là lặn mò có sử dụng khí tài hoặc không, dùng các móc sắt móc bào ngư nằm trong các kẽ đá hoặc lật đá. Việc nuôi bào ngư còn hết sức mới mẻ, tuy nhiên, nuôi bào ngư sẽ giúp tăng sản lượng bào ngư và làm giảm cường độ lao động trong ngư dân

- Nuôi bào ngư theo hình thức quảng canh:

Thả giống bảo vệ và khai thác hợp lý. Phía nam-đông nam các đảo: Quan Lạn, Cô Tô, Minh Châu là những vùng nước có độ mặn cao quanh năm, đáy thường là đá cục hoặc phiến xếp liền kề nhau, có nhiều rong phát triển vào các tháng xuân hè. Ðây là địa điểm rất tốt để nuôi bào ngư theo hình thức quảng canh.

- Nuôi treo:

Là phương thức hợp lí nhất, được nhiều nước áp dụng. Theo cách này, bào ngư được nhốt trong các ống plastic đường kính 150-200mm, dài 300-450mm, trên có khoan 4-6 hàng lỗ đường kính 10mm, cách nhau 4-5cm, hai đầu ống có lưới (mắt lưới 2a=1mm) bịt kín và giữ cố định bởi hai vòng nhựa. So với các kiểu nuôi treo bằng lồng nhựa, rổ nhựa nuôi trong ống nhựa có nhiều ưu điểm hơn: dễ cho ăn, dễ bắt để kiểm tra; tránh được hầu hết địch hại và giá thành hạ, dễ kiếm.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.