Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 01/03/2012 22:36 (GMT+7)

Hoa hòe vị thuốc nhiều triển vọng

Hòe (S. japonica) là đại mộc nhỏ, không lông, lá 1 lần kép với 13 - 17 lá phụ. Chùm hoa tụ tán ở ngọn cành. Hoa trắng, ngà, quả có eo chứa 4 - 5 hột. Bộ phận dùng là hoa (Hòe hoa).

Hòe trong Y dược học cổ truyền phương Đông: Hòe hoa hay Hoài hoa mễ (Flos Sophorae Japonica Immaturus) là nụ Hòe (Sophora japonica), thu hoạch vào mùa hè trước khi hoa nở hoàn toàn.

Hòe hoa được cho là có vị đắng, tính hàn và tác động vào kinh Can và Đại trường.

Hòe hoa có các tác dụng: lương huyết và cầm máu, dùng trị các chứng liên hệ đến “nhiệt - thấp” tại đại trường có xuất huyết, nhất là các chứng chảy máu do trĩ và tiêu ra máu; cũng dùng để trị chảy máu cam, thổ huyết (ói ra máu), khái huyết, huyết áp cao… Thường được phối hợp với Trắc bá diệp (Biot orientalis) sao cháy để trị tiêu, tiểu ra máu, xuất huyết tử cung, thổ huyết và chảy máu cam…

“Lương can”, dùng trị đau mắt sưng đỏ, chóng mặt xây xẩm do can nhiệt gây ra.

Y học cổ truyền còn sử dụng các dạng chế biên hoa Hòe vào các mục tiêu khác nhau: nụ Hòe tươi để giúp làm sáng mắt; Hòe sao, thiêu để cầm máu và tẩm mật sao để bổ phổi.

Quả Hòe hay Hoài giác (Fructus Sophorae Japonica), được cho là có hoạt tính cầm máu kém hơn nụ hoa, nhưng lại thanh nhiệt tốt hơn nên thường được dùng để trị các cục trĩ sưng. Quả có tính “giáng khí” nên tránh dùng khi có thai.

Sơn đậu căn là rễ cây Hòe Bắc bộ (Sophora tonkinensis = Sophora subprostrata), được chép trong Thái bảo bản thảotừ năm 973 cho là có vị đắng, tính hàn, tác động vào kinh phế, đại trường: thanh nhiệt, trừ độc do hỏa bốc lên và trị các chứng sưng và đau họng. Thường được phối hợp với quả Ngưu bàng (Ngưu bàng tử - Fructus Arctii Lappae) và rễ Cát cánh (Platycodon frandiflorum) để trị các bệnh về cổ họng sưng đau. Thanh phế: trị ho do phế - nhiệt. Trị các chứng hoàng đản do thấp nhiệt. Còn được dùng trị sưng cổ họng, sưng chân răng bằng cách sắc uống.

Khổ sâm cho rễ là rễ cây Sophora flavescens, được ghi trong Thần Nông Bản thảo, được xem là có vị đắng, tính hàn, tác động vào kinh tâm, can, bàng quang, đại và tiểu trường.

Tác dụng thanh nhiệt và khử thấp, thường dùng trị các chứng kiết lỵ, huyết trắng của phụ nữ, hoàng đản, sưng đau. Trừ phong, diệt trùng, trị ngứa: dùng trong các trường hợp lở ngứa ngoài da do nhiệt - thấp, trị ngứa ngáy nơi bộ phận sinh dục.

Thanh nhiệt và lợi tiểu, trị các chứng bất ổn do nhiệt thấp nơi tiểu trường, đi tiểu đau gắt.

Liều thường dùng 4 - 15g. Có thể đến 30g nếu chế biến thành dạng thuốc thoa ngoài da.

Khổ sâm cho rễ được dùng để trị kiết lỵ, chảy máu trong ruột, đi tiểu ra máu. Nước sắc rễ dùng rửa trị ngứa ngoài da. Bột rễ tán mịn dùng trộn với glucose và axit boric để trị sưng âm đạo do nhiễm Trichomonas.

Độc tính và độ an toàn: theo dược điển của Trung Quốc, liều tối đa khi dùng uống rễ Khổ sâm cho rễ (Sơn đậu căn), cho người lớn là 9g/ ngày. Liều gây độc là 30g. Liều cao Khổ sâm có thể gây hư hại thần kinh, co giật, nhất là ở trẻ em.

Liều LD 50 của oxymatrin được Zhu Youping xác định là 521 mg/kg.

Thành phần hóa học

Hột hòe (S. japonica) chứa:các alkaloid loại quinolizidin (0,04%) như cytisin, N-methyl cytisin, matrin, sophocarpin; các flavonoid (1,75%) như rutin (0,5%), sophorin; các polyscacharid như galactomannan; chất béo (6.9 - 12.1%); protein (17,2 - 23%); 265 mg% calcium; 272 mg% phosphor; 1,066 mg% potassium.

Hoa hòe chứa nhiều rutin, khoảng 34%, nhất là trong nụ hoa sắp nở, ngoài ra còn có các saponin khi thủy phân cho betulin, sophoradiol, sophorin A, B và C.

Vỏ quả có flavonoid (10%) như genistein, sphoricosid (genisterin - 4’ glucosid), sophorabiosid, keampferol rutin, ophorose.

Rễ cây có: (D, L) maackian, amhydropisatin, pterocarpan, sophoja ponicin, flavonoid…

Trong rễ Hòe Bắc bộ (Sophora tonkinense) còn có tên Sơn đậu căn, có các alkaloid (0,93%) loại quinolizidin như: cytisin, sophocarpin, matrin, lehmannin, sophoranol, oxymatrin và oxysophocarpin. Ngoài ra, còn có anagyrin, sophoranochromen, sophoradin, genistein maackian… Các saponin loại triterpenoid như sophor - neoanochromon…

Trong rễ của Khổ sâm cho rễ (Sophora flavescens) có: các flavonoid thuộc nhóm prenlflavonoi và lavandulyflavonoid như 9 -prenylkempferol, kushenol X, norkurarinon, leachianon A, kushenol C, maackiain… các alkaloid loại matrin như matrin, sophoridin, sophocarpin, lehmannin, sophoramin, oxymatrin, oxysophocarpin, cytosin và aloperin.

Các nghiên cứu về tác dụng dược học

Hoạt tính cầm máu: hòe hoa đã được sử dụng lâu đời trong y dược học cổ truyền Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam để làm thuốc cầm máu, làm bền mao mạch, ngừa giãn tĩnh mạch. Các nghiên cứu khoa học dưới các dạng chế bao gồm rutin, quercetin và tanin. Kết quả ghi nhận: khi cho thú vật thí nghiệm uống trong 5 ngày liên tục: thời gan chảy máu, thời gian đông máu, độ thẩm thấu vi mạch đều giảm hạ nơi chuột thử nghiệm. Thời gian prothrombin cũng giảm. Cả 3 dạng chế biến đều làm tăng lượng fibrinogen. Ngoài ra, các dạng chiết đều giúp tăng tiểu cầu. Dạng sao đến vàng được xem là có hoạt tính cầm máu mạnh nhất.

Hoạt tính chống ung thư của sophora tonkinensis (Hòe Bắc bộ): Liều 60 g/kg rễ có hoạt tính khá rõ trị ung thư cổ tử cung nơi chuột thử nghiệm, có tác dụng ức chế chống Sarcoma 180. Hoạt tính hóa trị liệu của oxymatrin mạnh gấp 7,8 lần so với mitomycin C. Khi thử dùng để trị các trường hợp ung thư máu ác tính hay granulocytic, dược liệu cho thấy có hoạt tính ức chế dehydrogenase và sự hô hấp của tế bào.

Tác dụng kháng sinh của S. Tonkinensis: có hoạt tính kháng sinh mạnh chống lại vi khuẩn lao, tụ cầu khuẩn (đặc biệt là Staphylococcus aureus đã kháng methicillin), kháng các nấm gây bệnh như Epidermophyton và candida albicans.

Hoạt tính chống siêu vi của Sophoridin: Sophoridin, ly trích từ Giả hòe, còn gọi Khổ sâm cho rễ có hoạt tính chống siêu vi khuẩn Coxsackievirus B3, là tác nhân chính gây viêm cơ tim cấp tính và kinh niên, hoạt tính này do ở tác động trên tiến trình chuyển biến cytokin nơi tế bào cơ tim.

Tác dụng chống loạn nhịp tim của Khổ sâm cho rễ được dùng tại các bệnh viện Trung Hoa làm thuốc trị loạn nhịp tim. Thuốc có tác động làm chậm nhịp tim, gia thời gian chuyển dẫn nơi tim và gây giảm phản ứng kích ứng cơ tim. Các hoạt tính này không bị ảnh hưởng bởi các các nhân atropin nor-beta -adrenergic. Khi chích cho mèo, qua tĩnh mạch, dung dịch 100% S. flavescens liều 1 ml/mg cho thấy có sự giảm nhịp tim đồng thời có sự gia tăng lưu lượng máu qua động mạch vành. Các nghiên cứu ghi nhận d-matrin có tác dụng chống loạn nhịp tim nơi thú vật do hoạt động ức chế trực tiếp bắp thịt tim; hoạt tính chống loạn nhịp gây ra bởi aconitin, chlorur barium hay do cothắt động mạch vành.

Hoạt tính bảo vệ gan của oxymatrin, trích từ sophora flavescens có tác dụng bảo vệ tế bào gan chống lại những hư hại gây ra do các gốc tự do và các cytokin tạo phản ứng viêm… Các hư hại này do hiện tượng các tế bào tự hủy, có thể đưa đến viêm gan mãn tính. Khi chích cho chuột thử nghiệm (có đối chứng) oxymatrin 30 phút trước khi gây nghẽn gan chuột, kết quả ghi nhận số tế bào bị hư hại giảm thiểu, ALT và AST cũng giảm hạ đáng kể. Oxymatrin ngăn chặn tiến trình hư hủy tế bào gan bằng cách tác động vào Fas và các ligand Fas.

Tác dụng chống siêu vi viêm gan của oxymatrin đã được nghiên cứu về hoạt tính chống siêu vi viêm gan C tại các bệnh viện Trung Hoa từ 1999. Khi chích cho các bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B, liều 600 mg/ngày: số lượng siêu vi khuẩn giảm hạ và tình trạng xơ gan cũng được cải thiện. Oxymatrin được ghi nhận là có tác dụng chống sao chép của siêu vi HCV khi thử trong phòng thí nghiệm trên môi trường cấy tế bào. Thử nghiệm tại Trung tâm Trị liệu bệnh Gan của BV Amoy (2002) trên 30 bệnh nhân viêm gan do siêu vi B, cho chích 40 mg/ngày trong 3 tháng, ghi nhận lượng siêu vi giảm rất rõ ràng và gan được tái tạo. Thử nghiệm, có đối chứng, mù đôi, năm 2004 trên 216 bệnh nhân viêm gan siêu vi B, dùng oxymatrin, chích hay uống, trong 24 tuần cho thấy kết quả rất tốt. Thử nghiệm kế tiếp rộng rãi hơn, trên 144 bệnh nhân viêm gan do siêu vi B hay C, chia thành 2 nhóm, đối chứng bằng placebo, cho uống 900 mg oxymatrin/ ngày trong 52 tuần đưa đến kết quả là lượng siêu vi khuẩn B hay C đều mất hẳn (negative) khi thử nghiệm và lượng ALT cũng trở về mức bình thường. Sinh thiết tế bào gan cũng cải thiện rõ rệt. Ngoài ra, trong một nghiên cứu khác, so sánh hoạt tính của oxymatrin (dùng chích) và interferon -A cho thấy oxymatrin có tác dụng tương đương với interfeon trong việc làm giảm lượng siêu vi mà không gây những phản ứng phụ độc hại. Mặt khác khi dùng oxymatrin chung với lamivudin để trị viêm gan siêu vi, kết quả trị liệu tương đương với việc dùng interferon chung với lamivudin.

Các hợp chất ức chế monamin oxidase trong dịch chiết từ rễ S. flavescens bằng methanol có hoạt tính ức chế MAO nơi não chuột thử nghiệm. Trong dịch chiết này có 2 flavonoid là formononetin, kushenol F và các hợp chất oxymatrin, trifolirhizin và beta -sitosterol. Hai chất có tác động IMAO là formononetin (ức chế MAO -B ở nồng độ IC50 = 21.2 micro M) Kushenol F cũng ức chế Mao -B ở IC50 - 63,1 và Mao -A ở IC50 =103,7 micro M.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.