Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 07/09/2007 00:01 (GMT+7)

Hò sông nước Bắc Trung Bộ

Lối sống quần tụ dọc theo nguồn nước tạo nên nhiều làng xóm liên hoàn rất thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp. Hệ thống sông ngòi cùng chi lưu chảy theo trục từ phía tây Trường Sơn đổ ra biển Đông tạo nên mạng lưới tưới tiêu, đưa phù sa bồi đắp các tiểu vùng đồng bằng nhỏ, cuốn sách Quảng Bình qua các thờikì lịch sửtrích dẫn từ Ô châu cận lụcđược Dương Văn An viết về Bình Trị Thiên như sau: “... sông hồ đầy nước, đi thuyền tiện lợi hơn đi bộ, đất quê màu mỡ, cấy lúa tốn ít sức người...". Môi trường tự nhiên đó đã tạo điều kiện cho nhiều loại hình dân ca phát triển, một trong số đó là thể hò sông nước. 

Hò sông nước Bắc Trung Bộ là sản phẩm tinh thần, biểu hiện sự cố kết của cộng đồng người Việt. Những làn điệu hò lantoả trên một không gian rộng lớn. Ở mỗi vùng lại có lối hò riêng biệt. Hò sông Mã xứ Thanh in đậm dấu ấn chèo, chống, vác, lái do năm trai đò điều khiển với năm chặng hò: rời bến, sắng đò ngược, vác thuyền(khi đò bị mắc cạn vào bãi cát giữa sông), xuôi dòng, cập bến, phản ánh chân thực cuộc sống của người dân gắn bó với dòng sông. Hàng trăm câu hò vẫn còn lưu giữ đến ngày nay tiêu biểu cho hình thức lao động chèo thuyền. Hò sông nước xứ Nghệ đầy ân tình, biểu lộ nội tâm như muốn gửi gắm tình cảm cá nhân vào trong lời ca, do đó trên những con thuyền chở khách sông Lam, sông La luôn có nhịp điệu chậm mang tính chất kể lể tạo ra sự hoà nhập cùng đồng cảm giữa người hò và người nghe. Sự hoà nhập, pha trộn các lối hát giữa hò, ví, giặm trong môi trường sông nước cho thấy âm điệu vùng này nhất quán, chịu tác động sâu sắc của hệ thống năm thanh điệu (không có thanh ngã). Quảng Bình nổi trội với tổ hợp sáu mái hò khoan Lệ Thuỷ đầy đủ mọi cung bậc tình cảm, sắc thái khi thể hiện, từ thăm hỏi, tìm hiểu lúc mở đầu cuộc hò đến nhịp điệu sôi nổi, cuốn hút của hò nện, hò lệ hố. Hò sông nước Trị Thiên nghe mượt mà sâu lắng, ý tứ lời ca được trau chuốt tỉ mỉ đến từng chi tiết làm lay động tất cả những ai đã từng nghe một lần. Điển hình nhất là những làn điệu của hò mái đẩy, mái ruỗi của những người làm nghề chở hàng, đánh bắt cá trên đầm phá mênh mông, nhưng nổi bật nhất vẫn là hò mái nhì, làn điệu hò gâyxúc cảm sâu sắ c, tạo ra diện mạo riêng biệt khó trộn lẫn, đồng thời đi vào ca Huế như một thành phần không thể thiếu. 

Để đạt tới lối hát định hình (đường nét âm điệu, nhịp điệu hài hoà), hò sông nước Bắc Trung Bộ tiếp nhận cũng như chịu ảnh hưởng chi phối từ môi trường sản sinh ra nó từ thói quen đi thuyền của người Việt Bắc Trung Bộ. Khi lập xóm làng, các cư dân đã đem theo những làn điệu dân ca trong đó có hò sông nước vào đây. Có thể nhận định hò sông nước hình thành sớm hơn thời điểm Dương Văn An nhắc tới. 

Trong quá trình đó, di chuyển trên sông nước là hiện tượng phổ biến, một hình ảnh sinh hoạt quen thuộc ở nhiều nơi. Khi mọi người gặp nhau, từ thuyền này tới thuyền kia tiếng hát hò mau chóng trở thành hình thức giao tiếp hằng ngày bởi đây là môi trường trao đổi, thăm hỏi đầy giao cảm cộng sinh. Những nghệ nhân hò dần nổi bật lên bởi lối ca đặc sắc hình thành một lớp người tài năng nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng âm điệu, nhịp điệu khi hò có một số điểm bị biến đổi bởi dấu âm và giọng, mặt khác trong dân gian không quy định rõ ràng bài bản, chặt chẽ khi thể hiện, người ta chỉ nhớ chuỗi âm đặc trưng nhất của từng làn điệu và tự tuỳ hứng sáng tạo theo thẩm âm cá nhân, điều này đem lại cho hò những biến thể không đồng nhất về cấu trúc. Vậy điều gì tạo ra điệu hò này khác biệt (hoặc có hơi hướng gần giống) điệu hò kia mặc dù khi hát câu đầu mọi người có thể nhớ ngay giai điệu? Điều này phụ thuộc vào âm điệu và nhịp điệu từng điệu hò. Lối hát dân gian Việt Nam nói chung dùng phương thức truyền miệng, do đó tam sao thất bảnsai lạc so với nguyên gốc từ một điệu ban đầu rất phổ biến, gây không ít khó khăn khi xác định nơi phát sinh. Hò mái nhì là một ví dụ, nhiều ý kiến cho rằng hò mái nhì là điệu hò thoát thai từ dòng sông Hương dựa trên các yếu tố mà hò thể hiện gắn bó chặt chẽ với môi trường này, nhưng ở Quảng Trị hò mái nhì là điệu hò cạn nổi tiếng được người dân yêu thích do tính chất dàn trải tự sự, trao đổi tâm tình. Lịch sử cho thấy thế kỉ XVI chúa Nguyễn lập dinh thự, thu hút nhân tài phía bắc vào sinh cơ lập nghiệp nơi đây trước và hát hò dân gian của người Việt tất nhiên được mang vào vùng đất này. Hò mái nhì Huế đặc sắc, nổi bật hơn hò mái nhì Quảng Trị. Tất nhiên không khó để nhận thấy hò mái nhì Quảng Trị và Huế là hai làn điệu giống về điệu thức, biến thể của nhau bằng âm điệu, nhịp điệu trong thể hiện. Tôn Thất Bình nhận xét: “... hò mái nhì trên sông nước Trị Thiên tuy chưa rõ nguồn gốc và thời điểm phát sinh, nhưng là tiêu biểu cho vùng đất này...” [1, tr 33].  

Quảng Bình cũng có hò mái nhì nhưng qua tìm hiểu cho thấy đây là điệu hò trong hệ thống hò khoan Lệ Thuỷ có cấu tạo giai điệu khác Trị Thiên, gần như là họ hàng xa về âm điệu do đó chỉ thấy bóng dáng nhịp điệu để lại khi diễn xướng. 

Từ điệu hò gốc bằng nhiều cách lan truyền trong không gian sinh hoạt theo vùng cư trú, thậm chí biệt lập với nhau bởi hai nơi không liền kề như hò đò đưa sông Mã chẳng hạn là biến thể làn điệu xe chỉ luồn kim của dân ca quan họ Bắc Ninh, hò làn văn xuất phát từ hát chầu văn. Điều này cho thấy âm nhạc dân gian lưu chuyển không có quy luật nhất định. Có thể đưa ra dẫn chứng về điều này: Đồng bằng sông Hồng, cái nôi sản sinh dân ca Việt Nam, tại đây một số điệu đò đưa theo thời gian mờdần đi thì nơi khác lại phát triển mạnh mẽ, những điệu hò ở Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang... mất dần môi trường sử dụng, thay vào đó là hát giao duyên, hát thờ, tế lễ, xu hướng phát triển hội hát theo vùng. Ngược lại, ở Bắc Trung Bộ, hò được ưa chuộng và phát triển khắp nơi do môi trường tự nhiên lại đáp ứng yêu cầu làm tăng sự cố kết cộng đồng, gắn bó với nhau trong niềm cộng cảm bền chặt. 

Những biến thể hò sông nước mỗi nơi đều tương hợp lối vận âm điệu, nhịp điệu, điệu thức... theo đặc điểm nổi trội tại vùng đó. Lệ Thuỷ, Quảng Bình mau chóng trở thành trung tâm diễn xướng hò thu hút mọi người tới nghe, thưởng thức. Các cuộc thi hò luôn tạo không khí sôi nổi hấp dẫn, từng làn điệu khi diễn xướng đều được nâng cao hơn về âm điệu, nhịp điệu, hoàn thiện lối hát, những biến thể cũ được bổ sung giai điệu, cấu tứ lời ca... và từ đây lan toả khắp mọi nơi, tái tạo lại theo cách hiểu, cảm nhận của mỗi người bằng nhiều hình thức khác nhau và hình thành các biến thể mới. Quá trình đó lặp đi lặp lại, mỗi điệu hò từ lúc ban đầu với âm điệu, nhịp điệu giản đơn hoặc có đường nét giai điệu đẹp dần dần biến đổi, lồng ghép thành nhóm hò đầy đủ cung bậc, giọng điệu, xu hướng nối dài liên làn điệu hò vẫn còn tiếp tục. Hò sông Mã trong quá trình phát triển, tiếp nhận nhiều làn điệu biến đổi dưới dạng tổ khúc hò. Mặt khác cùng với cuộc đi đò tới nhiều miền quê, bãi sông, bến chợ trên toàn bộ lưu vực đồng bằng sông Mã nên ta không thấy gì lạ khi thấy mọi người dân xứ Thanh đều hò được. 

Như vậy, hò Bắc Trung Bộ là hiện tượng phổ biến qua phương thức truyền miệng dân gian. Sự điều chỉnh các làn điệu hò theo điều kiện sống tự nhiên vẫn đang tiếp tục. Điều này cũng tương tự như hiện tượng dị bản trong ca dao như bài Lí con sáolà một ví dụ, đến nay chúng ta đã sưu tầm được khoảng 11 biến thể làn điệu tại các vùng dân ca, khác nhau về kiểu hát như: lối ngân hơi, các nốt luyến láy, vị trí cao độ, âm vực hoặc điệu chuyển theo hơi bắc, hơi nam... rất điển hình cho âm nhạc dân gian. Lí con sáoNam Bộ có cách hát cuốn hút, nhớ thương; ở Nam và Trung Trung Bộ lại mang tính chất đung đưa và đằm thắm; con sáo Huế bay bổng, uốn lượn; sáo quan họ trữ tình lưu luyến... Mỗi nơi âm điệu lí lại biến đổi theo điệu thức của vùng miền đó, điều này lí giải tại sao từ một làn điệu con sáo ban đầu đã sinh sôi nảy nở thành nhiều làn điệu đông đúc đủ màu sắc trong dân ca Việt Nam. 

Tuy vậy biến thể làn điệu cần phân biệt những dạng khác nhau như dạng gần, dạng xa và thay hình dạng qua cấu trúc. Biến thể dạng gần tạo ra biến đổi đường nét giai điệu tại một số vị trí không phải là trục âm cơ bản, hoặc thêm vào đó tiếng đệm hơi, luyến láy. Hò mái nhì và hò mái đẩy Trị Thiên thuộc dạng gần, khi hát giai điệu hò mái đẩy vang lên âm điệu gốc của hò mái nhì, chỉ biến một chút phần mở đầu, cấu trúc âm nhạc giữ nguyên. Giữa hò mái nhì Huế và Quảng Trị là biến thể dạng xa vì đã thay đổi âm điệu, chỉ giữ trục âm cơ bản chính của điệu thức. Lối diễn xướng cùng môi trường sinh hoạt đã thay đổi hò mái nhì Huế với hò mái nhì Quảng Bình trong hệ thống hò khoan Lệ Thuỷ khác về hình dạng cấu trúc gồm hai biến thể gần như khác hoàn toàn, chỉ có âm hưởng nhịp điệu và tên gọi giống nhau. 

Những căn cứ đã nêu ở trên cho thấy âm điệu, nhịp điệu có vai trò xác định biến thể hò sông nước lưu chuyển trong vùng không gian rộng lớn Bắc Trung Bộ. Mối liên hệ sử dụng nghệ thuật hò Nghệ Tĩnh với Bình Trị Thiên cho thấy giữa các vùng gần gũi về lối hát, phương thức diễn xướng... Dòng âm nhạc dân gian và cung đình cho dù làm chủ hơn một thế kỉ nhưng kiểu hát vẫn tạo cho người nghe mối giao cảm gắn bó về một thuở xa xưa. Nhiều thể ca định hình theo chuẩn mực thính phòng vừa tinh tế vừa nhuần nhuyễn (thành bài bản, luyện tập công phu) khác với Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh vẫn còn bảo lưu những âm điệu cổ, ít biến đổi.  

Hò sông nước là hình thức sinh hoạt đặc sắc của cư dân Việt Bắc Trung Bộ, khởi đầu từ lao động, tiếng hò vang tạo nên niềm phấn khích, trở thành sợi dây gắn kết tất cả mọi người. Mỗi làn điệu đều có tên gọi đặc trưng cho từng hoạt động nhất định, ví dụ hò rời bến xuất hiện khi đò đón khách tại các bến dọc theo sông Mã, hò mái nhì do người ở vị trí tay chèo thứ hai trên thuyền hát lên, hoặc hò kéo thuyền, hò mái đẩy, mái ruỗi... tất cả đều mang nội dung cũng như âm hưởng riêng. Nhưng sức lan toả của mỗi điệu hò đi khắp nơi giúp hò sông nước bay đi rất xa, tới đâu cũng được người dân ghi nhớ, tái tạo cho phù hợp với hệ thống dân ca từng địa phương. Do đó những biến thể mới từ điệu gốc đã xuất hiện, lưu truyền rộng rãi tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo lúc sử dụng, cứ như vậy hò sông nước được người Việt Bắc Trung Bộ hoàn chỉnh theo thời gian tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ đối với những ai nghe hò và trực tiếp tham gia. 

  

Tài liệu tham khảo     

1. Tôn Thất Bình (1994), Dân ca Bình Trị Thiên, Nxb. Thuận Hoá, Huế.

2. Vũ Ngọc Khánh (1989), “Tiếng hát sông Hương”, Tạp chí Văn hoá dângian,(số 4).

3. Phạm Phúc Minh (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam , Nxb. Âm nhạc, Hà Nội.

4. Tú Ngọc (1974), “Những bài hát lễ nghi - phong tục Việt Nam ”, Tạp chí Văn hoá dân gian,( số 4).

5. Nhiều tác giả (1991), Dân ca Nghệ Tĩnh, Nxb. Âm nhạc, Nghệ Tĩnh.

6. Trung tâm Văn hoá thông tin LệThuỷ (1996), Hò khoan Lệ Thuỷ, Tài liệu sưu tầm.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.