Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/07/2010 07:00 (GMT+7)

Hồ Quý Ly

Bắt đầu từ đổi mới triều đại, giải quyết khủng hoảng cung đình. Năm 1393, thấy họ Trần bất lực, Nghệ Tông đã nói với Quý Ly: “Bình Chương (tức Quý Ly) là họ thân thích nhà vua, mọi việc nước nhà đều trao cho khanh cả. Nay thế nước suy yếu, trẫm thì già nua. Sau khi trẫm chết, quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi vua”. Thực tế đó đã như một di chúc truyền ngôi. Vì vậy cuộc lên ngôi của Hồ Quý Ly năm 1400 như một sự chín muồi trong yêu cầu giải quyết khủng hoảng cung đình: Hồ lên thay Trần.

Tiếp theo là cải cách thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng phong kiến với các biện pháp cụ thể: - Phát triển đội ngũ quan lại phong kiến quan liêu thay thế dần phong kiến quý tộc. Năm 1375, Nghệ Tông “xuống chiếu chọn các quan viên biết luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là người tôn thất, đều cho làm tướng coi quân”. Đề cao tuyển chọn nhân tài từ bình dân thay thế quý tộc. Hạn chế Phật giáo, không ưu đãi tăng ni và phát triển chùa chiền như thời Trần mà còn có những biện pháp giảm thiểu: “Năm 1396, tháng Giêng, xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến tuổi 50 trở lên, bắt phải hoàn tục…”. Không theo nếp Tiền Lê, Lý, Trần phong tặng các quan tước cho quý tộc tôn thất. Không đưa nhiều tôn thất họ Hồ vào bộ máy nhà nước. Hồ Hán Thương “cấm người tôn thất, cung nhân không được xưng quý hiệu, người vi phạm bị trị tội”. Trong giữ nước, nếu nhà Trần triệu tập Hội nghị Bình Than chỉ có vương hầu quý tộc đến bàn việc chống giặc, thì nhà Hồ trong chuẩn bị chống Minh, lại chỉ triệu tập quan lại trong triều và quan lại đứng đầu các lộ tham dự Hội nghị Tây Đô, nhằm đề cao tác dụng và trách nhiệm của hệ phong kiến quan liêu, lấy Nguyễn Phi Khanh – ông thân sinh Nguyễn Trãi (không phải người tôn thất) làm Hàn lâm học sĩ. Đạo quân – thần đã thay thế quan hệ tông tộc.

Quan trọng nhất là thực hiện cải cách kinh tế - xã hội với các biện pháp:

1. “Hạn điền” mục tiêu là nhằm hạn chế chiếm hữu lớn về đất đai của quý tộc phong kiến: Chiếm hữu lớn về ruộng đất của địa chủ quý tộc nhà Trần vừa là do phân phong vừa là do chiếm dụng: “Năm 1397, tháng 6 (Âm lịch) xuống chiếu hạn chế danh điền (ruộng tư). Riêng đại vương và trưởng công chúa thì số ruộng không hạn chế. Đến thứ dân thì số ruộng là 10 mẫu. Người nào có nhiều thì tuỳ ý được lấy ruộng để chuộc tội. Bị biếm chức hay mất chức cũng được làm như vậy. Số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước”. “Hạn điền” đánh vào nền tảng kinh tế của quyền uy chính trị của phong kiến quý tộc. Tuy vậy, cải cách này cũng chỉ là nửa vời. Bởi vì, trong khi xã hội đang có yêu cầu tư hữu hoá ruộng đất để phát triển kinh tế hàng hoá tiền tệ và giải quyết nạn đói, thì số lượng đất ngoài 10 mẫu được lấy ra lại bị xung công “hiến cho nhà nước” biến thành quan điền.

2. Cải cách quan hệ sử hữu sức lao động bằng biện pháp “Hạn nô”. Năm 1401, lập phép hạn chế gia nô “chiếu theo phảm cấp được có số lượng khác nhau, còn thừa phải dâng lên. Mỗi tên được trả 5 quan tiền…”. Mục tiêu cũng là đánh vào cả thế và lực của phong kiến quý tộc nhưng cũng là cải cách nửa vời. Bởi vì đáng lẽ “hạn nô” để giải phóng sức sản xuất xã hội thì đây lại “đưa nô sung công” và “sung vào quân địch” củng cố chế độ phong kiến quan liêu. Cũng có thể nói như ngôn ngữ ngày nay là “Hạn nô” đúng ở “đầu vào” nhưng sai ở “đầu ra”.

3. Cải cách tiền tệ - Phát hành tiền giấy - một biện pháp mới, lần đầu tiên được thực hiện ở Đại Việt: “Năm 1396, tháng 4, bắt đầu phát hành (tiền giấy). Thông báo hội sao… Thể thức (tiền giấy): Tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 5 tiền vẽ phượng, tờ 1 quan vẽ rồng”. Đề ra những biện pháp nghiêm ngặt để thực thi: “Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất, tài sản bị tịch thu. - Cấm tiệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như trê”. Nguyên nhân có thể do yêu cầu phát triển của kinh tế Đại Việt mà Hồ Quý Ly đã cảm nhận được. Nhưng thực tế thì là: Ngay từ thời “thịnh Trần” (có thể kể đến Anh Tông, Minh Tông) tuy đồng tiền đã được sử dụng rộng rãi nhưng chưa có nhu cầu phát hành tiền giấy. Huống chi cuối Trần kinh tế đã suy thoái, tiền giấy ra đời không những chưa cần thiết mà còn gây phiền hà cho dân chúng (người giàu, thương nhân không muốn thi hành vì không tin ở giá trị đồng tiền. Nông dân ít tiền khó mua được hàng hoá. Người có thể tích lũy được tiền tệ thì lo lắng, không yên tâm…). - Việc đề ra những biện pháp cưỡng ép nghiêm ngặt như trên đã phần nào phản ánh sự mất lòng dân.

4. Cải cách văn hoá, giáo dục: Khuyến khích sử dụng chữ Nôm, tự mình làm thơ chữ Nôm và giải nghĩa Kinh Thibằng chữ Nôm. – Phát huy tác dụng Nho giáo. Năm 1392, làm sách Minh Đạo(con đường sáng) 14 thiên “cho Chu Công là tiên thánh, Khổng tử là tiên sư”, nêu ra “bốn chỗ đáng ngờ trong sách Luận ngữ”. Năm 1395, dịch thiên Vô dật (không lười biếng) trong Kinh thư ra chữ Nôm nêu tấm gương của các vua hiền thời xưa để dạy vua Thuận Tông. - Đề cao lối học thực dụng cần thiết cho cơ chế quan liêu: Phê phán những người chỉ biết chấp nhặt văn chương, tuy học rộng nhưng viển vông. Năm 1397, ban hành chính sách khuyến học cho mở trường đến các phủ châu, ban quan điền để chỉ về việc học. - Cải tiến thi cử, mở nhiều khoa thi kén chọn người tài. Chỉ riêng khoa thi Thái học sinh năm 1400 đã có 20 người thi đỗ, trong đó có những danh nho như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…

5. Cải cách về quân sự: - Năm 1401 lập sổ hộ tịch để bổ sung quân ngũ. Đóng thuyền đinh sắt để chiến đấu, chấn chỉnh lại tổ chức quân đội, bổ thêm hương quân. Trong chiến đấu, áp dụng thuật “làm vườn không nhà trống”. Xây dựng thêm thành trì mới, câu trục lại các thành trì cũ.

Nhìn chung lại, cải cách Hồ Quý Ly là toàn diện, lấy kinh tế xã hội làm trọng tâm. Trong đó “Hạn điền”, “Hạn nô” là quan trọng nhất. Nhưng “Hạn điền”, “Hạn nô” không triệt để. Cải cách tiền tệ, ý đồ thì tốt, nhưng kinh tế xã hội chưa có nhu cầu. Cải cách văn hoá, giáo dục có tiến bộ nhưng cũng không tránh khỏi bị những phản ứng của Phật giáo lúc đó vẫn còn cần thiết cho đám quần chúng nông dân khổ ải. Cải cách quân sự có cái mới nhưng chưa coi trọng chiến tranh nhân dân, còn nặng dựa vào thành hơn là “dựa vào lòng người”… Mặc dầu vậy, cải cách xã hội của Hồ Quý Ly cũng có cống hiến đáng kể cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc. Nếu không bị giặc Minh tàn phá thì cũng đưa lại những tiến bộ đáng kể cho đất nước. Những mục tiêu cải cách mà Hồ Quý Ly mong muốn, sau này đã được Lê Thánh Tông kế thừa, phát huy mặt tích cực phủ định cái tiêu cực, dẫn tới thành công.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

DIGIFEST 2026 - “Phát triển Nền tảng số và Dịch vụ số, chuyển các hoạt động lên môi trường số”
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới sáng tạo số, sự kiện DIGIFEST 2026 sẽ chính thức diễn ra trong hai ngày 4 - 5/6/2026 tại Khách sạn The Reed, tỉnh Ninh Bình, quy tụ hàng trăm chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, nhà hoạch định chính sách và tổ chức quốc tế cùng chung tay kiến tạo tương lai số cho Việt Nam.
Việt Nam - Trung Quốc tăng cường liên kết công nghệ, phát triển hệ sinh thái kỳ lân
Chiều 14/5 tại Hà Nội đã diễn ra Diễn đàn Thượng đỉnh phát triển ngành Trí tuệ nhân tạo Trung Quốc - ASEAN (Việt Nam) lần thứ II. Diễn đàn do Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chỉ đạo thực hiện, Hội Tự động hóa Việt Nam chủ trì tổ chức.
VUSTA hợp tác với Tập đoàn GFS thúc đẩy hệ sinh thái y tế số chủ động vì sức khỏe cộng đồng
Chiều ngày 14/5, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) và Tập đoàn GFS đã tổ chức hội nghị và lễ ký kết hợp tác triển khai chương trình y tế số và chăm sóc sức khỏe chủ động. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực phát triển then chốt của đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 57.
Vĩnh Long: Tôn vinh 88 trí thức tiêu biểu năm 2025
Sáng ngày 13/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW” gắn với lễ Vinh danh trí thức tiêu biểu năm 2025. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5.
Đắk Lắk: Hệ thống quản lý thư viện - văn thư tích hợp trí tuệ nhân tạo SmartLibDoc.AI
Đây là giải pháp đoạt giải Nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (khu vực phía Tây) giai đoạn 2024-2025. Giải pháp khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, xây dựng một cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, tránh nhập liệu trùng lặp, dễ dàng tổng hợp báo cáo liên ngành; Giải quyết bất cập trong mượn - trả thủ công, thay bằng quản lý tự động, có nhắc hạn trả, có thống kê chính xác…
Sơn La: Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày 12/5, tại Xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La, Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng, Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Ngọc Chiến phối hợp tổ chức Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) và Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5).