Hiệu quả từ việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh lúa
Những vụ gần đây, nhóm lúa lai với nhiều giống lúa triển vọng như Syn 6, TH3-3, TH3-4, Nông ưu 28 có tiềm năng năng suất cao, được đưa vào thâm canh nhằm bảo đảm sự ổn định về năng suất, sản lượng lương thực trong điều kiện diện tích gieo cấy giảm dần. Vụ đông xuân 2007, toàn tỉnh gieo cấy 400 ha lúa lai, riêng huyện Kim Động gieo cấy 170 ha. Xã Phú Thịnh và thị trấn Lương Bằng (Kim Động) là những địa phương mạnh dạn đưa nhiều giống lúa mới và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào đồng ruộng. Nông dân ở đây cho biết: giống lúa lai TH3-4 đã được khảo nghiệm những vụ gần đây cho thấy cây lúa sinh trưởng khoẻ, không bị bệnh bạc lá, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất vụ xuân trên 64 tạ/ha.
Huyện Yên Mỹ khảo nghiệm các giống lúa mới N46, N50 cho kết quả khả quan: lúa cứng cây, kháng được nhiều sâu bệnh, năng suất ước đạt 67-68tạ/ ha. Các giống lúa Đột biến 5, Đột biến 6, VĐ8 với ưu điểm chống đổ tốt, tương đối sạch sâu bệnh, bông to, nhiều hạt, tiềm năng năng suất cao (từ 60-66 tạ/ha). Riêng giống lúa Đột biến 6, nếu thâm canh tốt có thể đạt năng suất 68 tạ/ha. Những giống lúa này đều có chất lượng gạo ngon, thích hợp gieo cấy ở trà xuân muộn, trà mùa sớm và mùa trung, được đưa vào cơ cấu trà vụ để thay thế dần giống lúa Q5 và Khang Dân 18. Diện tích lúa hàng hoá, chất lượng cao gồm các giống IR1561, hương thơm số 1, bắc thơm số 7, nếp các loại luôn được mở rộng. Năm 2006, nhóm giống lúa này chiếm 41,4% diện tích. Vụ đông xuân này, diện tích cấy lúa hàng hoá, chất lượng cao đạt 18.846 ha, chiếm 47,5% tổng diện tích, tăng hơn 4% so với vụ đông xuân trước. Huyện Mỹ Hào gieo cấy 2965 ha lúa hàng hoá, chất lượng cao, chiếm hơn 69% diện tích. Ân Thi là huyện trọng điểm lúa của tỉnh. Vụ này, lúa hàng hoá, chất lượng cao của huyện tăng đột biến, đạt 4830 ha, chiếm 58,6% tổng diện tích, tăng gần 10% so với vụ đông xuân trước. Để mở rộng lúa hàng hoá, chất lượng cao, huyện cung ứng gần 30 tấn thóc giống gồm bắc thơm số 7, IR 352… đồng thời hỗ trợ 50% tiền giống cho nông dân. Nhiều nông dân cho biết: giống lúa Bắc thơm số 7 năng suất không thua kém nhiều so với lúa tẻ thường song giá bán gần gấp đôi. Vụ mùa tới, huyện tiếp tục hỗ trợ tiền mua thóc giống chất lượng cao, đồng thời tập huấn hướng dẫn nông dân kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh cho lúa.
Cùng với thay đổi cơ cấu giống lúa, cơ cấu trà vụ cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Trước đây, vụ đông xuân chủ yếu là trà sớm, cấy bằng mạ dược. Có năm gặp rét đậm, rét hại, lúa chết hàng loạt. Nếu trời ấm, nhiệt độ cao, dễ xảy ra hiện tượng mạ già lúa ống, lúa trỗ sớm so với thời vụ, năng suất giảm. Những năm gần đây, vụ đông xuân chủ yếu được gieo cấy ở trà muộn, cấy bằng mạ non gieo trên nền cứng. Vụ này, trà xuân muộn với các giống ngắn ngày chiếm hơn 90% diện tích. Nhiều địa phương cấy toàn bộ diện tích bằng mạ non gieo trên nền cứng. Thực tế cho thấy lúa cấy bằng mạ non (từ 1,5-2 lá), mạ gieo trên nền cứng đẻ nhánh khỏe, bông lúa to, nhiều hạt, cây lúa chống chịu được nhiều loại sâu bệnh. Trà xuân muộn né tránh được yếu tố thời tiết bất thuận như rét đậm, thời điểm lúa trỗ (trong khoảng thời gian từ 5.5-15.5) tránh được không khí lạnh và gió tây, cho năng suất cao, ổn định hơn lúa cấy bằng mạ dược. Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp-PTNT, cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống vụ đông xuân 2006-2007 được các địa phương và nông dân thực hiện khá tốt nên đã tránh được sâu cuốn lá lứa 2 và góp phần hạn chế sâu bệnh bùng phát trên diện rộng.
Trong thâm canh lúa, mô hình “3 giảm, 3 tăng” (giảm lượng phân đạm, thuốc trừ sâu, tiết kiệm nước hoặc giống; tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế) là mô hình canh tác tiến bộ được triển khai trên diện rộng nhằm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân trong sản xuất lúa. Hiệu quả của mô hình canh tác tiến bộ đã được thực tế sản xuất xác nhận. Ở tỉnh Hưng Yên, Chi cục Bảo vệ thực vật phối hợp với Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc thí nghiệm thực hiện mô hình từ vụ xuân năm 2006 ở các xã Tân Phúc (Ân Thi), Hưng Đạo (Tiên Lữ) và một số địa phương khác. Chương trình đã tổ chức cho nông dân làm thí nghiệm so sánh đối chứng các biện pháp kỹ thuật mới so với tập quán cũ bằng việc theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật. Công thức cấy 1 dảnh/khóm, mật độ cấy thưa, từ 11-16 khóm/m 2, lúa đẻ nhánh nhiều, tỷ lệ bông hữu hiệu cao, mật độ sâu, rầy, tỷ lệ nhiễm bệnh khô vằn thấp hơn. Các loại thiên địch như nhện, bọ rùa tăng. Trong khi công thức cấy dày theo tập quán truyền thống (bình quân 48 khóm/m 2) có số dảnh, số bông/khóm và tỷ lệ bông hữu hiệu thấp.
Từ hiệu quả mô hình, nhiều nông dân tiếp tục nhân rộng diện tích, giảm lượng nước tưới, tháo cạn nước giai đoạn cuối đẻ nhánh đến trước khi lúa làm đòng để thau rửa chua, kích thích cho rễ ăn sâu, huy động được thức ăn ở tầng dưới làm cho lúa chắc hạt và tăng khả năng chống đổ. Những ruộng cấy theo mô hình này vừa giảm chi phí về phân đạm, thuốc trừ sâu, vừa giảm lượng nước tưới trong điều kiện tình hình khô hạn ngày càng gay gắt.
Với kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến, bà con nông dân đã giảm chi phí bình quân hơn 50 kg thóc giống/ha. Việc bón phân đạm theo bảng so màu lá lúa và sử dụng phân bón cân đối, hợp lý theo từng giai đoạn sinh trưởng của lúa tính ra mỗi ha giảm bình quân 35 kg phân đạm, trong khi năng suất bình quân tăng hơn 160 kg/ha, lợi nhuận tăng hơn 1 triệu đồng/ha. Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác vào thâm canh lúa, quản lý dịch hại theo biện pháp tổng hợp, kết hợp giảm lượng giống, giảm phân đạm, hạn chế số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giúp nông dân nâng cao hiệu quả canh tác, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra nông sản sạch, bảo đảm sức khoẻ người tiêu dùng, người sản xuất và xây dựng nền nông nghiệp bền vững.








