Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 18/08/2009 17:07 (GMT+7)

Hệ thống chính quyền của họ Trịnh thế kỷ XVII - XVIII

Sau khi triều Minh phái Sứ bộ sang nước ta mang theo lễ vật và xin kết tình láng giềng hòa hiếu tháng 3 năm 1599, Trịnh Tùng đã thành công trong việc đặt quan hệ ngoại giao với triều Minh. Mặt khác, tạm thời để yên cho con cháu nhà Mạc chiếm cứ vùng đất Cao Bằng ở phía Bắc. Tháng 4 năm Quang Hưng thứ 22 (1599), vua Trang Tông cử Thái tể Vinh Quốc công Hoàng Đình Ái đem kim sách (sách vàng) phong cho Trịnh Tùng làm Đô Nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương (1). Trịnh Tùng được quyền “mở phủ Chúa, đặt quan thuộc”. Từ đó, mọi việc chính quyền, quân sự, thuế khóa đều do phủ Chúa trông coi, Trịnh Tùng được quyết đoán mọi việc (2). Bắt đầu xuất hiện một thể chế chính trị đặc biệt trong lịch sử Việt Nam , đó là hệ thống chính quyền kép mà thường được gọi với danh xưng Lưỡng đầu chế: vua Lê và chúa Trịnh.

Tác giả Lê Kim Ngân trong tác phẩm chuyên khảo “ Văn hóa chính trị Việt Nam: Chế độ chính trị Việt Namthế kỷ XVII và XVIII” cho rằng: Lưỡng đầu chế được coi như định chế cổ truyền của dân tộc Việt Nam (3) trên cơ sở ràng buộc với nhau bằng tình cảm nhiều hơn là pháp lý.

Ngược lại, lưỡng đầu chế vua Lê - chúa Trịnh mang nặng tính chất quyền lợi của hai dòng họ, vì vậy mối liên hệ pháp lý giữa hai vị đứng đầu vương triều và phủ chúa “đòi hỏi phải đặt thành một quy tắc minh bạch và chặt chẽ” (4). Việc phân chia quyền lực tưởng chừng như rất rành rẽ, nhưng thực tế đã chứng minh vào thế kỷ XVII - XVIII, vương triều Lê tồn tại chỉ là trên danh nghĩa, còn thực quyền đã thuộc về Phủ đường nhà Trịnh, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu quá trình xác lập quyền lực của nhà Trịnh.

Sau khi được phép chính thức của vua Lê cho quyền được lập Phủ Chúa vào năm 1599, Trịnh Tùng đã thành lập chính quyền và các vị chúa Trịnh kế tiếp đã từng bước kiện toàn hệ thống tổ chức của dòng họ mình, chủ yếu là xây dựng và đổi mới hệ thống chính quyền trung ương.

Họ Trịnh đặt ra Phủ đường là nơi tập trung các đại thần để bàn luận các việc quân quốc trọng sự. Phủ đường bao gồm Ngũ phủ phụ trách quan võ và Phủ liêu phụ trách quan văn. Ngũ phủ, Phủ liêu chính là hệ thống chính quyền trung ương của nhà Trịnh. Tuy Phủ đường chỉ được có quyền hạn ban chức cho các quan từ tứ phẩm trở xuống, còn vương triều Lê được phong chức các quan từ tam phẩm trở lên, song thực tế những viên quan tứ phẩm trở xuống mới chính là những người trực tiếp điều hành hệ thống chính quyền của Lê – Trịnh. Vì vậy, Phủ đường đã thực sự nắm quyền cai trị nước Đại Việt (5).

Việc đầu tiên mà Trịnh Tùng tiến hành vào năm 1600 là bãi bỏ các chức Tả hữu tướng và Bình chương để đặt chức Tham tụng (tức là Tể tướng). Tuy chưa đặt ra phẩm trật để lựa chọn Tham tụng, nhưng quyền lực của Tham tụng rất lớn. Vì vậy, việc tuyển lựa người đảm đương chức vụ này không nhất thiết phải có phẩm hàm cao nhất, có lúc là Thượng thư hoặc có khi là Thị Lang cũng được nhà Trịnh bổ dụng. Nhưng quan trọng nhất là những người được bổ dụng phải “trung thành với họ Trịnh, giỏi việc hành chính, có tài điều khiển trăm quan” (6).

Ngay năm sau (1601), họ Trịnh lại đặt thêm chức Bồi tụng (Nguyễn Danh Thế là người đầu tiên giữ chức vụ này). Bồi tụng là chức phó cho Tham tụng, cũng được tham gia bàn việc chính sự trong Phủ đường, thường có 3, 4 người đều “giữ bản chức mà mang hàm dự vào chính sự dưới chức Tham tụng”. Việc lựa chọn Tham tụng cũng như Bồi tụng đều trực tiếp do chúa Trịnh quyết định (Nguyễn Danh Thế, Ngô Trí Hòa đều được bổ từ Đô cấp sự trung lên giữ chức Bồi tụng) (7).

Cơ quan bên dưới của Ngũ phủ, Phủ liêu là Phiên, hiện tại vẫn chưa xác định được thời điểm ra đời của Phiên, chỉ biết 3 Phiên gồm: Binh phiên, Hộ phiên và Thủy sư phiên. Sách Đại Việt sử ký tục biêncho biết: “Theo chế độ cũ [thì phủ chúa] chỉ có 3 phiên Binh, Hộ và Thủy sư” (8). Việc lập ra cơ quan Phiên bên cạnh Lục bộ của vương triều Lê nhằm mục đích thống lĩnh và kiểm soát quân đội (Binh phiên) mà trong đó thủy quan (Thủy sư phiên) là một lượng lực quân sự quan trọng để đối phó chủ yếu với quân đội họ Nguyễn ở phía Nam. Đồng thời, việc lập ra Hộ phiên nhằm kiểm soát ruộng đất và trưng thu thuế khóa cung cấp cho tài chính của nhà Trịnh.

Cho đến năm 1718, Trịnh Cương mới chính thức lập ra 6 Phiên trực thuộc Phủ đường, gồm có: Lai phiên, Lễ phiên, Hình phiên, Công phiên, Binh phiên và Hộ phiên. Lúc này, không thấy tồn tại tên gọi Thủy sư phiên nữa, chắc chắn vai trò của Thủy sư phiên không còn quan trọng như trong thời kỳ chiến tranh với nhà Nguyễn ở phía Nam (1627 - 1672) nữa, nên đã được sáp nhập vào với Binh phiên. Thư tịch cổ đã chép rõ: “từ đây, chính quyền trong nước về hết Lục phiên mà Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) và Lục tự (Đại lý, Thái Thường, Quang lộc, Thái bộc, Hồng lô và Thượng bảo) chỉ đặt cho đủ vị mà thôi” (9).

Trong các Phiên của Lục phiên, viên quan đứng đầu là Tri phiên hàm Tòng nhị phẩm tương đương với Thượng thư Lục bộ, tiếp theo là Phó Tri phiên và Thiêm tri phiên hàm Tòng tam phẩm tương đương với Tả, Hữu Thị lang Lục bộ. Ban đầu, lúc mới đặt ra Lục phiên (1718), chức nhiệm chưa quan trọng, nên nhà Trịnh cử hai người cùng giữ chức Tri phiên chủ yếu chỉ phụ trách việc trưng thu thuế. Dần dần, Lục phiên trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng của Phủ đường, sau khi Lục phiên đã thâu tóm hết quyền hành của Lục bộ. Khi đó “Chức vụ (lục phiên) nhiều và trọng yếu, chuyên hết mọi việc của Lục bộ” (10), lúc này phụ trách Lục phiên chỉ là viên Thượng thư bên các bộ tương ứng (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công) kiêm giữ. Năm Tân Mùi, Canh Hưng thứ 12 (1751), tháng 6, Trịnh Doanh tiến hành chấn chỉnh chức trách các chức quan giữ việc chính trị quy định “các quan trọng Lục bộ nắm giữ đại cương của Lục phiên” (11). Chức vụ Phó Tri phiên và Thiêm tri phiên từ lúc xuất hiện đến khi kết thúc, nhà Trịnh đều trao cho mỗi chức 02 người phụ trách mà không có thay đổi về số lượng. Đội ngũ quan lại giúp việc trong các phiên gồm có: Nội sai và Lại viên, trong đó chức Câu kê hàm Chánh thất phẩm, Phó Câu kê hàm Tòng thất phẩm, chức Cai tư, Cai hợp hàm Chánh bát phẩm, Lại viên hàm Chánh cửu phẩm. Tổng số nhân viên trong một Phiên, khi mới được lập ra (1718) gồm 60 người.

Các viên quan Tri phiên, Phó Tri phiên, Thiêm tri phiên có phẩm hàm tương đương với Thượng thư, Tả Hữu Thị lang Lục bộ. Đội ngũ quan lại giúp việc bên dưới của các Phiên phẩm hàm thường thấp hơn với các chức tương ứng bên Lục bộ từ 1 - 2 bậc.

Nếu như hệ thống chính quyền trung ương, họ Trịnh đã có những thay đổi thì hệ thống chính quyền của các cấp ở địa phương dưới thời Lê - Trịnh hầu như vẫn duy trì theo cách tổ chức của thời Lê sơ, chỉ có một vài thay đổi nhỏ.

Qua vài nét khái quát về hệ thống chính quyền thế kỷ XVII - XVIII, chúng ta có thể thấy được sự thay đổi hệ thống cấp Trung ương nhằm mục đích phục vụ cho ý đồ xây dựng một thể chế chính quyền độc lập của các chúa Trịnh. Việc lập ra hệ thống Phủ đường với các cơ quan Ngũ phủ Phủ liêu cùng Lục phiên là một sáng tạo của nhà Trịnh trong thế kỷ XVII - XVIII, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, củng cố bộ máy nhà nước.

Chú thích

1.Đại Việt sử ký toàn thư, T.III, Nxb KHXH, 1998, tr 205.

2.Khâm định Việt sử thông giám cương mục , T. II, Nxb KHXH, 1998, tr 222.

3. Lê Kim Ngân: Văn hóa chính trị Việt Nam- Chế độ chính trị Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, Viện đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1974, tr 55.

4. Sđd, Lê Kim Ngân, tr 33

5. Sđd, Lê Kim Ngân, tr 254

6. Sđd, Lê Kim Ngân, tr 252

7. Phan Huy Chú:Lịch triều hiến chương loại chí, T. I, Nxb Giáo dục, 2007, tr 554.

8.Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Nxb KHXH, 1991, tr 74.

9. SđdKhâm định… cương mục , T. II, tr 412

10. Sđd:Lịch triều hiến chương… T. I, tr 562.

11. Sđd:Khâm định… cương mục, T. II, tr 614 - 615.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.