Hay quên, có khi nên công hạ
Chứng hay quên thuộc nhiều cơ chế:
- Thận tinh suy hư
- Tâm thận bất giao
- Tâm tỳ đều hư
- Đàm trọc quấy rối tâm
Nhìn khái quát, chứng hay quên có khi thuộc hư (mạch tượng Hư Nhược), có khi thuộc thực (mạch Huyền Hoạt), có khi thuộc nhiệt (mạch Tế Sác), có khi thuộc hàn (mạch Tế Nhược).
Về chứng hay quên do cơ chế Dương minh xúc huyết tạo thành điều 237 sách Thương hàn luận nói: “Chứng Dương minh, người bệnh hay quên, trong thân thể tất là có xúc huyết. Sở dĩ bệnh phát sinh như thế, do nguyên nhân vốn có ứ huyết từ lâu, cho nên dẫn tới hay quên. Đại tiện tuy cứng mà bài tiết lại dễ dàng, nhưng phân tất là sắc đen. Điều trị có thể dùng Để đương thang công hạ ứ huyết”.
Chứng Thái dương Xúc huyết là tà nhiệt của Thái dương theo kinh vào phủ kết hợp với huyết, gây ra các triệu chứng bụng dưới cấp kết, hoặc là đầy cứng, tiểu tiện thông lợi, như cuồng, phát cuồng v.v...
Chứng Dương minh xúc huyết là tà nhiệt Dương minh kết hợp với ứ huyết có từ trước; cho nên có triệu chứng hay quên, tâm làm chủ huyết ứ, huyết có từ trước kết hợp với tà nhiệt thì tâm khí thất thường, cho nên hay quên. Nếu như chỉ là tà nhiệt dương minh thịnh ở trong, tân dịch bị hao tổn; trong đường ruột thiếu tân dịch nhu nhuận mà đại tiện phân cứng, thì khi bài tiết phân tất là khó khăn. Trường hợp này, đại tiện tuy cứng mà lại bài tiết phân dễ dàng, lại thấy sắc phân đen, đó là đặc trưng của chứng súc huyết.
Huyết dịch thuộc âm, tính huyết nhu nhuận, huyết dịch ly kinh hỗn hợp với phân táo, cho nên hoả táo thành nhuận, hoá cứng thành mềm. Do đó, phân tuy cứng mà bài tiết lại dễ dàng.
Tà nhiệt gây táo kết, sắc phân thường đen: nhưng ứ huyết thì nát mà đen dính như sơn ta, táo kết thì phân cứng mà đen thẫm như than: đó là trọng điểm biện chứng.
Xúc huyết ở bên trong không thể dùng các phương pháp hãn, thổ, hạ, hoà để giải quyết tất là phải dùng trị pháp công ứ trục huyết. Cho nên dùng Để đương thang để phá uất kết của huyết, công tả tà nhiệt bài tiết phân cứng, thì triệu chứng hay quên cũng rút. Chứng Dương minh xúc huyết và Thái dương xúc huyết, tuy con đường gây bệnh có phân biệt, nhưng cơ chế bệnh đều là tà nhiệt kết hợp với huyết, cho nên đều dùng Để đương thang làm phương tễ điều trị chủ yếu.
Trên lâm sàng, chứng xúc huyết nhẹ dùng Đào nhân thừa khí thang, chứng xúc huyết nặng dùng Để đương thang.
Đào nhân (hạch) thừa khí thang
Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn), Đại hoàng, Quế chi (cạo vỏ thô), Camthảo chích, Mang tiêu.
Phương trên tức là Điều vị thừa khí thang gia Đào nhân, Quế chi để phá ứ, trục huyết Đại hoàng khổ hàn trừ phân táo làm chủ được. Mang tiêu hàm hàn vào huyết làm mềm chất rắn, tán tà. Camthảo tính hoãn, giúp bài thuốc khu tà mà không tổn thương chính khí.
Để đương thang
Thuỷ điệt (sao), Mang trùng (bỏ chân, cánh, sao), Đào nhân (bỏ vỏ, đầu nhọn), Đại hoàng (rửa rượu), Thuỷ điệt, Mang trùng trừ ứ huyết. Camthảo hoà hoãn các vị thuốc có tính mãnh liệt. Đào nhân công huyết. Đại hoàng hạ nhiệt, trừ phân táo.
Chẩn đoàn phân biệt chứng Dương minh phủ thực và chứng Dương minh xúc huyết, điều 257 sách Thương hàn luận nói:
“Người bệnh không có triệu chứng biểu lý gì khác, mà phát sốt đã 7 -8 ngày, tuy rằng mạch tượng Phù Sác, cũng có thể dùng phương pháp công hạ.
Nếu như sau khi công hạ, mạch Sác không giải, mà ăn uống tăng mạnh, 6 -7 ngày không đại tiện; đó là do cơ chế ứ huyết gây ra. Nên dùng Để đương thang điều trị”.
Người bệnh phát sốt, nếu như có kiêm sợ lạnh, là biểu tà chưa giải. Trường hợp này chỉ phát sốt mà không sợ lạnh, là bệnh đã rời phần biểu. Tuy rằng mạch tượng Phù Sác, cũng không phải là biểu tà chưa giải; có thể dùng phương pháp công hạ điều trị.
Nếu như bệnh thuộc cơ chế Trường Vị táo thực, sau khi công hạ, phân táo rút, thì mạch tĩnh, thân mát, bệnh khỏi. Trường hợp này, sau khi công hạ, mạch tượng Sác không giải, mà lại ăn được, mau đói thì không phải là bên trong có phân táo. Tham khảo điều 215 sách Thương hàn luận nói: Mà lại không ăn được, trong Vị tất là có phân táo... Kết hợp với tình hình nói trong điều 257 là sau khi công hạ mà mạch tượng Sác không giải, có thể biết rằng tuy 6 -7 ngày không đại tiện, cũng không thuộc chứng Dương minh phủ thực, mà là bên trong có ứ huyết, cho nên điều trị dùng Để đương thang phá huyết trục ứ.
Chứng ứ huyết và chứng Dương minh phủ thực về phương diện tình hình bệnh là không đồng nhất. Chứng Dương minh phủ thực thường xuất hiện các triệu chứng trào nhiệt, nói sảng, bụng đầy trướng, quanh rốn đau, không ăn đượcv.v... Chứng ứ huyết thường xuất hiện các triệu chứng bụng dưới cấp kết, tiểu tiện thông lợi, hay quên, hoặc như cuồng, phát cuồng v.v... Đó là trọng điểm bệnh chứng trên lâm sàng.
Trong điều 257, nguyên văn nói “hợp nhiệt thì tiêu cốc mau đói”. Các nhà chú giải nói: “hợp nhiệt” ở đây ý nói: phủ Vị bình hoà hợp nhiệt, mà không phải là Vị tà hợp nhiệt. Cách giải thích đó là phù hợp với tinh thần của trị pháp sử dụng Để đương thang. Sau khi công hạ, mạch tượng Phù rút, mà mạch tượng Sác không giải, là biết rằng nhiệt không ở khí mà ở huyết. Nhiệt ở huyết, tất là bệnh ứ huyết.
Nguồn : TC Đông Y, số 38, 7/2006








