Hậu quả của việc lạm dụng kháng sinh: Phải dùng thuốc mới, đắt tiền
Những năm trước đây, khi cần sử dụng kháng sinh nhóm betalactam, các thầy thuốc thường lựa chọn một số loại kháng sinh phổ rộng quen thuộc như ampicilin, cephalexin, amoxicilin… Nhưng do việc lạm dụng và dùng không đúng quy định, các kháng sinh này hầu hết đã bị vi khuẩn kháng lại, trở nên kém hiệu lực (ampicilin đã bị đề kháng tới gần 90%). Do đó, để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, thầy thuốc đành chọn các loại kháng sinh mạnh khác để thay thế, trong đó có những thuốc khá đắt tiền. Loại kháng sinh nhóm cephalosporin hiện hay được sử dụng nhiều nhất.
Các cephalosporin thế hệ mới có khá nhiều loại để thầy thuốc chọn lựa. Một trong số đó là Cefuroxim có cả dạng uống và dạng tiêm. Nó là kháng sinh diệt khuẩn bền vững với các chủng vi khuẩn tiết ra beta lactamase và có hoạt phổ rộng đối với cả vi khuẩn gram âm và gram dương. Khi dùng đường uống, cefuroxim được hấp thu từ từ qua ống tiêu hoá và nhanh chóng bị thuỷ phân tại lớp niêm mạc ruột vào trong máu. Sự hấp thu tối ưu nếu thuốc được uống ngay sau bữa ăn. Nồng độ tối đa đạt được trong máu khoảng 2-3 giờ sau khi uống thuốc. Nếu sử dụng thuốc đường tiêm tĩnh mạch, nồng độ đỉnh đạt ngay tức thời. Cefuroxim được dùng để điều trị các vi khuẩn nhạy cảm trong các nhiễm trùng đường hô hấp trên như viêm họng, viêm amidan, viêm xoang và đường hô hấp dưới như các bệnh viêm phổi, phế quản. Ngoài ra nó cũng có tác dụng rất tốt đối với nhiễm trùng đường tiết niệu như viêm thận, bể thận, bàng quang, niệu đạo và bệnh lậu. Trong các nhiễm trùng da và mô mềm như bệnh nhọt, mủ da và chốc lở, cefuroxim cũng hay được lựa chọn khi các kháng sinh thông thường đã bị kháng.
Không sử dụng cefuroxim cùng với các thuốc làm giảm axit dịch vị, tức là các thuốc hay dùng trong bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng vì các thuốc này làm giảm sinh khả dụng của cefuroxim. Nhìn chung, cefuroxim khá an toàn trong sử dụng nhưng cũng cần đề cao cảnh giác nếu bệnh nhân có tiền sử dị ứng với penicilin. Cũng như các kháng sinh nhóm cephalosporin khác, nếu dùng cefuroxim kéo dài có thể làm phát triển những nhóm vi khuẩn không nhạy cảm gây viêm đại tràng giả mạc gây tiêu chảy. Trong trường hợp đó cần dừng thuốc và có hướng xử trí bằng biện pháp bổ sung cân bằng của vi hệ bình thường trong đường tiêu hoá. Một số phản ứng nhẹ, thoáng qua cũng có được ghi nhận ở tỉ lệ rất thấp.
Cefuroxim được coi là kháng sinh dự phòng chỉ sử dụng khi các thuốc kháng sinh khác đã bị kháng. Tuy nhiên, hiện nay cefuroxim đã được dùng khá rộng rãi do nó là thuốc kháng sinh đang còn ít bị đề kháng nhất. Trên thị trường có rất nhiều sản phẩm của trong nước sản xuất cũng như nhập khẩu với nhiều tên biệt dược như zinnat, zinacef, Farox… Thuốc có giá khá cao, là gánh nặng kinh phí đối với những người bệnh ít tiền. Ngay cả loại cefuroxim do trong nước sản xuất cũng có giá cao hơn nhiều so với các thuốc khác. Vì vậy cần phải cân nhắc kỹ trước khi sử dụng bất cứ một loại kháng sinh nào.
Nguồn: KH&ĐS Số 40 Thứ Sáu 19/5/2006








