Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 08/05/2014 22:10 (GMT+7)

GS Phan Huy Lê: Cách thi cử hạ thấp môn Sử

  Học sinh bỏ môn Sử thì hệ quả thế nào?

PV:Năm nay là năm đầu tiên sau nhiều năm Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) cho phép thí sinh tự chọn 2 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và có một thực tế đáng buồn là ít thí sinh chọn thi môn Sử. Giáo sư nghĩ gì về điều này?

GS.NGND Phan Huy Lê:Cải cách thi cử là cần thiết nhưng đổi mới thi tốt nghiệp THPT với cách như vừa rồi có lẽ bộ chưa lường hết hậu quả của nó. Kết quả đăng ký chọn Sử rất ít, có trường không học sinh nào chọn thi môn Sử. Nói chung thí sinh chọn thi môn xã hội rất ít.

Dư luận hiện có hai xu hướng. Thứ nhất là lo lắng vị thế môn xã hội thấp xuống và làm ảnh hưởng đến việc học môn Sử. Xu hướng thứ hai lại cho rằng không nên quá lo lắng về điều này, do học sinh phải tính toán liên quan đến thi đại học nên đó là sự tính toán thông minh và tất yếu.

Cá nhân tôi nghĩ với cách thi như thế thì hoàn toàn không ngạc nhiên là học sinh sẽ bỏ môn Sử, môn Địa và chọn các môn tự nhiên. Bởi không riêng môn Sử mà các môn xã hội nói chung sẽ bị hạ thấp, bị coi là môn phụ. Tôi rất lo lắng về điều này. Trong giáo dục phổ thông các môn xã hội rất quan trọng trong hình thành nhân cách, bản lĩnh, năng lực, tư duy của con người. Bây giờ học sinh bỏ môn Sử thì hệ quả thế nào, học sinh lớn lên không biết lịch Sử dân tộc, công dân Việt Nam mù mờ về lịch Sử đất nước.

PV:Theo giáo sư, tại sao môn Sử không hấp dẫn học sinh?

GS.NGND Phan Huy Lê:Việc học sinh chán môn Sử không phải do môn Sử không hấp dẫn, cũng không phải do học sinh quay lưng mà hoàn toàn do cách dạy môn Sử ở trường phổ thông hiện nay. Có vấn đề về quan điểm dạy Sử, coi đó là môn phụ, cách dạy môn Sử cũng kém hấp dẫn, khiến học sinh chán. Chương trình nặng kiến thức, sự kiện, trí nhớ như thế thì với tuổi trẻ đầy năng động, đầy sức sống thì rõ ràng các em không chấp nhận được. Tôi cũng chán. Sách giáo khoa (SGK) toàn sự kiện, thừa mà lại thiếu nhiều cái quan trọng, thiếu sức hấp dẫn. Nói chung, chương trình dạy môn Sử, SGK môn như thế, dạy như thế, tôi nghĩ học sinh chán học Sử là tất yếu.

Nói học sinh quay lưng với môn Sử theo tôi hơi quá. Trong một mức độ nào đó thì thái độ không thích học môn Sử, bày tỏ sự không đồng tình với nội dung và phương pháp dạy hiện nay theo tôi là tích cực, nó bày tỏ thái độ chủ động, năng động hơn của tuổi trẻ, phản ứng và không chấp nhận lối dạy đó. Do đó phải thay đổi cách dạy và học môn Sử.

Nhìn một cách tổng quát thì tuy có một số nỗ lực cố gắng của các thầy cô giáo trong công tác giảng dạy và cũng có cải tiến nhất định trong SGK, nhưng nhìn chung cho đến tận hôm nay và có thể cả kéo dài trong thời gian tới, thực trạng dạy môn Sử trong các trường phổ thông rất đáng buồn, rất đáng lo ngại.

PV:Trong thời gian qua nhiều học giả, chuyên gia, các nhà giáo rất ủng hộ đưa môn Sử là môn thi bắt buộc, nhưng học sinh lại không thích điều đó, ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

GS.NGND Phan Huy Lê:Đây là một vấn đề chúng tôi nhiều lần đề xuất và dư luận cũng đã bàn nhiều. Và nó cũng không phải vấn đề riêng của Việt Nam mà kinh nghiệm quốc tế các nước phát triển trên thế giới. Nhiều nước trên thế giới đều coi Văn, Toán, Sử (có nước có thêm môn ngoại ngữ) là môn cơ sở, cơ bản, hoặc môn bắt buộc. Cá nhân tôi cho rằng, các môn bắt buộc thi tốt nghiệp không nên vắng môn Sử. Nếu tổ chức thi như đổi mới của Bộ thì trên thực tế là góp phần loại trừ môn Sử học.

Chúng ta hình dung như thế nào nếu học sinh lớn lên trở thành những công dân hiểu biết về Sử dân tộc mình một cách rất mù mờ, thiếu hệ thống và thiếu căn bản, từ đó không chỉ thiếu kiến thức mà còn liên quan đến vấn đề tính cách, ý thức công dân, dân tộc. Theo tôi vấn đề này hết sức cơ bản và cần có sự nghiên cứu có trách nhiệm của ngành giáo dục.

Phải đổi mới toàn diện môn Lịch sử

PV:Có ý kiến cho rằng, Bộ GD&ĐT để học sinh tự chọn sẽ thúc đẩy việc dạy và học các môn học đi vào chất lượng thực, không gò ép học sinh học những môn mà các em không yêu thích hoặc không có sở trường?

GS.NGND Phan Huy Lê:Cách lý giải trên chỉ hợp lý khi mà giảng dạy môn Sử ở phổ thông thật sự thay đổi. Còn thực trạng dạy học môn Sử hiện nay là học sinh không thích môn Sử, rất chán môn Sử, như thế nếu để cho các em tự chọn thì mặc nhiên các em loại bỏ môn Sử.

Về mặt lý thuyết, việc cho các em được chọn môn học mà mình yêu thích thì không sai, nhưng thực tế điều kiện để thực hiện được nó còn rất xa vời.

Tôi nhắc lại, ai cũng biết việc dạy học môn Sử hiện nay không hiệu quả, học sinh không thích, không muốn lựa chọn. Như vậy khi đưa ra chủ trương cho học sinh tự chọn, nếu Bộ GD&ĐT nắm vững thực tế và có trách nhiệm với các môn học thì phải thấy trước hệ quả.

Tôi rất hoan nghênh tinh thần cải cách thi tốt nghiệp THPT mà Bộ GD&ĐT triển khai, nhưng cách làm cụ thể thì tôi thấy có nhiều vấn đề cần nghiên cứu lại một cách nghiêm túc và cần phải có trách nhiệm hơn.

PV:Theo giáo sư, làm thế nào để SGK Lịch sử hấp dẫn, đáp ứng được yêu cầu cho phát triển bền vững giáo dục?

GS.NGND Phan Huy Lê:Lỗi hệ thống trong giáo dục hiện nay tôi cho không phải là khiếm khuyết bộ phận mà là khiếm khuyết hệ thống nên nếu mình chỉ chữa từng bộ phận thì nó thành chắp vá. Ví dụ như môn Sử, sách nặng nề như vậy thì bổ sung, bỏ bớt đi, bộ vừa làm như vậy thành chắp vá. Sách không chỉ dùng cho thầy giáo, học sinh mà nó chứa đựng trong đó cả vị thế và chức năng của môn học. Khi chương trình chưa thay đổi thì sửa SGK không có ý nghĩa gì cả, có chăng chỉ điều chỉnh một ít, bổ sung một vài cái, gạt bỏ một vài cái.

Phải thay đổi từ hệ thống nên vấn đề đặt ra là phải hiểu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là cả hệ thống, trong đó có nhiều hệ thống con, từng bộ môn, từng cấp học.

PV:Theo giáo sư cần phải cấp thiết thay đổi việc dạy môn Sử trong trường phổ thông như thế nào? Có cần phải làm một cuộc chấn hưng đối với môn lịch Sử cũng giống như chúng ta đang làm cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục?

GS.NGND Phan Huy Lê:Phải đặt môn Sử trong cả hệ thống giáo dục phổ thông, không thể tách ra được. Muốn thay đổi môn Sử phải thực hiện trong tổng thể, tức là trong đề án đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phổ thông. Môn Sử cũng phải được thay đổi từ nhận thức về môn Sử như thế nào, dạy Sử nhằm mục đích gì, môn Sử góp sức gì vào đào tạo con người ở lớp trẻ, từ đó mới xác định học cái gì, học như thế nào.

Đó là hàng loạt câu hỏi phải trả lời và thể hiện trong chương trình môn Sử, sau đó là biên soạn SGK. SGK là cực kỳ quan trọng mà theo tôi, SGK Sử hiện nay không thể chấp nhận được, phải thay đổi về căn bản.

Việc đào tạo giáo viên cũng phải đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của cuộc cải cách dạy và cách học của học sinh. Cách dạy và cách học của học sinh cũng phải thay đổi. Tóm lại, phải hệ thống, nếu tách từng khâu nhỏ thì không thể giải quyết được. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đang đặt ra trong đề án đổi mới chương trình, SGK phổ thông mà tôi đang rất chờ đợi, và cá nhân tôi cũng như hội sẵn sàng đóng góp ý kiến để xây dựng đề án mới, trong đó đặc biệt là chương trình và biên soạn SGK Sử.

PV:Xin cảm ơn giáo sư!

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.